Sách hay Archives - Nghĩa NB Blog cá nhân của Nghĩa NB Wed, 23 Sep 2026 13:53:35 +0000 vi hourly 1 Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie sau gần 100 năm vẫn còn nguyên giá trị https://nghianb.org/dac-nhan-tam-cua-dale-carnegie-sau-gan-100-nam-van-con-nguyen-gia-tri-924/ https://nghianb.org/dac-nhan-tam-cua-dale-carnegie-sau-gan-100-nam-van-con-nguyen-gia-tri-924/#respond Wed, 23 Sep 2026 01:25:21 +0000 https://nghianb.org/?p=924 “How to Win Friends and Influence People” (Đắc Nhân Tâm) của Dale Carnegie, xuất bản lần đầu năm 1936, là một trong những cuốn sách self-help bán chạy nhất mọi thời đại, với hàng chục triệu bản được bán ra trên toàn thế giới. Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng phần lớn nguyênXem thêm

Bài viết Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie sau gần 100 năm vẫn còn nguyên giá trị đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie sau gần 100 năm vẫn còn nguyên giá trị

“How to Win Friends and Influence People” (Đắc Nhân Tâm) của Dale Carnegie, xuất bản lần đầu năm 1936, là một trong những cuốn sách self-help bán chạy nhất mọi thời đại, với hàng chục triệu bản được bán ra trên toàn thế giới. Gần một thế kỷ đã trôi qua, nhưng phần lớn nguyên tắc trong sách vẫn được nhắc lại thường xuyên trong các khóa đào tạo kỹ năng giao tiếp, lãnh đạo hiện đại.

Nguyên tắc cốt lõi: đặt mình vào vị trí người khác

Xuyên suốt cuốn sách, Carnegie nhấn mạnh một nguyên tắc nền tảng: con người luôn quan tâm đến bản thân mình nhiều hơn bất kỳ điều gì khác, và ai muốn ảnh hưởng đến người khác một cách hiệu quả thì trước hết cần thực sự quan tâm đến mối bận tâm, mong muốn của họ, thay vì chỉ chăm chăm nói về những gì mình muốn. Những nguyên tắc cụ thể như “thành thật khen ngợi”, “khơi gợi ở người khác một mong muốn thiết tha”, “để người khác cảm thấy ý tưởng đó là của họ” đều xoay quanh tinh thần này.

Không phải là “mánh khóe” thao túng

Một số người khi mới nghe tên sách dễ hiểu lầm đây là cẩm nang thao túng tâm lý người khác để trục lợi. Nhưng đọc kỹ, tinh thần cốt lõi mà Carnegie truyền tải lại gần với việc xây dựng sự chân thành, quan tâm thực sự đến người đối diện hơn là những “mánh khóe” hời hợt. Ông nhấn mạnh nhiều lần rằng nếu áp dụng các nguyên tắc này mà không có sự chân thành đi kèm, chúng sẽ nhanh chóng bị người khác nhận ra và phản tác dụng.

Vì sao vẫn còn giá trị trong thời đại số

Dù được viết cách đây gần một thế kỷ, trước khi có mạng xã hội, email, hay các nền tảng nhắn tin, những nguyên tắc về sự lắng nghe chân thành, sự đồng cảm, cách xử lý bất đồng mà không làm tổn thương lòng tự trọng của người khác lại càng trở nên cần thiết trong một thời đại mà giao tiếp trực tiếp ngày càng ít đi, thay vào đó là những trao đổi ngắn gọn, dễ hiểu lầm qua màn hình. Có lẽ đó là lý do vì sao một cuốn sách xuất bản từ năm 1936 vẫn tiếp tục nằm trong danh sách sách nên đọc của nhiều doanh nhân, nhà quản lý ngày nay.

Bài viết Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie sau gần 100 năm vẫn còn nguyên giá trị đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/dac-nhan-tam-cua-dale-carnegie-sau-gan-100-nam-van-con-nguyen-gia-tri-924/feed/ 0
Nhà giả kim của Paulo Coelho – hành trình đi tìm “huyền thoại cá nhân” https://nghianb.org/nha-gia-kim-cua-paulo-coelho-hanh-trinh-di-tim-huyen-thoai-ca-nhan-922/ https://nghianb.org/nha-gia-kim-cua-paulo-coelho-hanh-trinh-di-tim-huyen-thoai-ca-nhan-922/#respond Wed, 23 Sep 2026 01:23:28 +0000 https://nghianb.org/?p=922 “Nhà giả kim” (O Alquimista) của nhà văn Brazil Paulo Coelho, xuất bản lần đầu năm 1988, kể câu chuyện về Santiago – một chàng chăn cừu người Tây Ban Nha lên đường theo đuổi một giấc mơ lặp lại nhiều lần: tìm kho báu chôn giấu gần Kim tự tháp Ai Cập. Đằng sauXem thêm

Bài viết Nhà giả kim của Paulo Coelho – hành trình đi tìm “huyền thoại cá nhân” đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Nhà giả kim của Paulo Coelho - hành trình đi tìm huyền thoại cá nhân

“Nhà giả kim” (O Alquimista) của nhà văn Brazil Paulo Coelho, xuất bản lần đầu năm 1988, kể câu chuyện về Santiago – một chàng chăn cừu người Tây Ban Nha lên đường theo đuổi một giấc mơ lặp lại nhiều lần: tìm kho báu chôn giấu gần Kim tự tháp Ai Cập. Đằng sau cốt truyện tưởng như đơn giản của một cuộc phiêu lưu, cuốn sách là một ngụ ngôn giàu tính triết lý về hành trình sống đúng với chính mình.

“Huyền thoại cá nhân” – khái niệm trung tâm của cuốn sách

Coelho gọi ước mơ, sứ mệnh riêng của mỗi người là “Huyền thoại cá nhân” (Personal Legend) – điều mà một người thực sự muốn thực hiện trong đời, khác với những gì người khác hay xã hội mong đợi ở họ. Theo lời một nhân vật trong truyện, khi một người thực sự khao khát theo đuổi Huyền thoại cá nhân của mình, “cả vũ trụ sẽ hợp lực giúp người đó đạt được nó” – một câu nói trở nên nổi tiếng, dù cũng gây không ít tranh luận về tính lãng mạn hóa quá mức của nó.

Kho báu thực sự nằm ở đâu?

Không muốn tiết lộ quá nhiều về twist của câu chuyện, nhưng có thể nói rằng hành trình của Santiago mang đến một bài học kinh điển: đôi khi, thứ ta cất công tìm kiếm ở những nơi xa xôi hóa ra lại luôn ở gần, thậm chí ngay tại nơi ta xuất phát – nhưng ta chỉ có thể thực sự “thấy” và trân trọng nó sau khi đã trải qua hành trình, đã trưởng thành qua những thử thách trên đường đi. Bản thân hành trình, với tất cả những khó khăn, những cuộc gặp gỡ, những bài học rút ra dọc đường, mới chính là phần giá trị nhất – không kém gì đích đến.

Vì sao cuốn sách vẫn được đọc rộng rãi sau hơn ba mươi năm

Với văn phong giản dị, gần như mang tính ngụ ngôn cổ tích, Nhà giả kim chạm đến một câu hỏi phổ quát mà hầu như ai cũng từng tự hỏi ở một giai đoạn nào đó trong đời: liệu mình có đang sống cuộc đời mà mình thực sự muốn sống, hay chỉ đang đi theo con đường an toàn mà người khác vạch sẵn? Có lẽ chính sự phổ quát của câu hỏi đó, chứ không chỉ riêng cốt truyện, đã giúp cuốn sách được dịch ra hàng chục thứ tiếng và tiếp tục tìm được độc giả mới qua nhiều thế hệ.

Bài viết Nhà giả kim của Paulo Coelho – hành trình đi tìm “huyền thoại cá nhân” đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/nha-gia-kim-cua-paulo-coelho-hanh-trinh-di-tim-huyen-thoai-ca-nhan-922/feed/ 0
Sapiens – Lược sử loài người: khi con người kể chuyện để hợp tác https://nghianb.org/sapiens-luoc-su-loai-nguoi-khi-con-nguoi-ke-chuyen-de-hop-tac-920/ https://nghianb.org/sapiens-luoc-su-loai-nguoi-khi-con-nguoi-ke-chuyen-de-hop-tac-920/#respond Wed, 23 Sep 2026 01:21:43 +0000 https://nghianb.org/?p=920 “Sapiens: A Brief History of Humankind” của sử gia Yuval Noah Harari, xuất bản lần đầu năm 2011, là một trong những cuốn sách phi hư cấu có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thập kỷ qua, đưa ra một cách nhìn lại toàn bộ lịch sử loài người từ góc độ vừa rộng vừaXem thêm

Bài viết Sapiens – Lược sử loài người: khi con người kể chuyện để hợp tác đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Sapiens - Lược sử loài người: khi con người kể chuyện để hợp tác

“Sapiens: A Brief History of Humankind” của sử gia Yuval Noah Harari, xuất bản lần đầu năm 2011, là một trong những cuốn sách phi hư cấu có sức ảnh hưởng lớn nhất trong thập kỷ qua, đưa ra một cách nhìn lại toàn bộ lịch sử loài người từ góc độ vừa rộng vừa sắc bén: điều gì thực sự khiến Homo sapiens – một loài vượn không đặc biệt mạnh mẽ hay nhanh nhẹn – lại trở thành loài thống trị hành tinh.

Câu trả lời của Harari: khả năng tin vào những “hư cấu” chung

Luận điểm trung tâm của Sapiens là: điều phân biệt loài người với các loài động vật khác không phải là công cụ hay lửa, mà là khả năng tin tưởng vào những điều không có thật về mặt vật lý nhưng lại tồn tại trong tâm trí tập thể – những “hư cấu” (fictions) như tiền tệ, quốc gia, tôn giáo, công ty, luật pháp, nhân quyền. Chính nhờ khả năng cùng tin vào những câu chuyện chung này mà hàng triệu người xa lạ, chưa từng gặp mặt, có thể hợp tác với nhau ở quy mô lớn – điều không loài động vật nào khác làm được.

Ba cuộc cách mạng định hình loài người

Harari chia lịch sử loài người thành ba cuộc cách mạng lớn: Cách mạng Nhận thức (khoảng 70.000 năm trước, khi Sapiens phát triển khả năng ngôn ngữ và tư duy trừu tượng phức tạp), Cách mạng Nông nghiệp (khoảng 12.000 năm trước, chuyển từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt – điều mà ông gọi thẳng là “vụ lừa đảo lớn nhất lịch sử” vì làm tăng dân số nhưng lại khiến cuộc sống mỗi cá nhân vất vả hơn), và Cách mạng Khoa học (khoảng 500 năm trước, khi con người bắt đầu thừa nhận sự thiếu hiểu biết của mình và tìm cách khám phá một cách có hệ thống).

Vì sao cuốn sách gây tranh luận nhiều đến vậy?

Sapiens không phải không có tranh cãi trong giới học thuật – một số nhà sử học, nhân chủng học cho rằng cuốn sách đơn giản hóa quá mức nhiều vấn đề phức tạp để phục vụ cho một câu chuyện lớn dễ tiếp cận với độc giả đại chúng. Nhưng chính khả năng kết nối những mảnh ghép rời rạc của lịch sử, sinh học, kinh tế, tâm lý học thành một câu chuyện mạch lạc, dễ hiểu lại là điều khiến cuốn sách trở thành hiện tượng xuất bản toàn cầu, mở ra cho hàng triệu độc giả một cách nhìn hoàn toàn mới về chính loài người của mình.

Nguồn tham khảo

  • Yuval Noah Harari – trang chủ tác giả (ynharari.com)
  • Philosophy Now – bài điểm sách “Sapiens by Yuval Noah Harari”

Bài viết Sapiens – Lược sử loài người: khi con người kể chuyện để hợp tác đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/sapiens-luoc-su-loai-nguoi-khi-con-nguoi-ke-chuyen-de-hop-tac-920/feed/ 0
Khuyến học – Cuốn sách truyền tư tưởng mạnh mẽ vực dậy nước Nhật vĩ đại https://nghianb.org/khuyen-hoc-cuon-sach-truyen-tu-tuong-manh-me-vuc-day-nuoc-nhat-vi-dai-28/ https://nghianb.org/khuyen-hoc-cuon-sach-truyen-tu-tuong-manh-me-vuc-day-nuoc-nhat-vi-dai-28/#respond Tue, 22 Sep 2026 05:53:29 +0000 https://nghianb.org/?p=28 Trong vô vàn những tư tưởng lớn của Nhật Bản từ trước tới nay, những tư tưởng được ca tụng và truyền mãi tới bây giờ có thể kể tới tư tưởng về lòng trung thành nổi tiếng của Samurai Nhật Bản, về truyền thống mật giáo Đông Mật nổi tiếng có sức ảnh hưởngXem thêm

Bài viết Khuyến học – Cuốn sách truyền tư tưởng mạnh mẽ vực dậy nước Nhật vĩ đại đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Trong vô vàn những tư tưởng lớn của Nhật Bản từ trước tới nay, những tư tưởng được ca tụng và truyền mãi tới bây giờ có thể kể tới tư tưởng về lòng trung thành nổi tiếng của Samurai Nhật Bản, về truyền thống mật giáo Đông Mật nổi tiếng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới Phật học phương Đông… Tuy nhiên, cá nhân tôi thấy có một tư tưởng có sức mạnh mãnh liệt và sức ảnh hưởng vô tiền khoáng hậu góp phần phục hưng nước Nhật vĩ đại, cuốn sách “Khuyến học”.

“Khuyến học” (Gakumon no Susume) được Fukuzawa Yukichi xuất bản thành nhiều tập từ năm 1872 đến 1876, ngay đầu thời Minh Trị – giai đoạn nước Nhật vừa mở cửa, đứng trước nguy cơ bị các cường quốc phương Tây chi phối. Cuốn sách bán được ước tính hơn 3,4 triệu bản chỉ trong vài năm, một con số khổng lồ so với dân số Nhật Bản khi đó, và trở thành một trong những cuốn sách có ảnh hưởng nhất lịch sử Nhật Bản hiện đại.

Tư tưởng cốt lõi: học để độc lập

Câu mở đầu nổi tiếng nhất của cuốn sách – “Trời không tạo ra người đứng trên người, cũng không tạo ra người đứng dưới người” – không phải để cổ súy chủ nghĩa bình quân, mà để khẳng định: sự khác biệt giữa người này với người khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác, nằm ở việc có học hay không có học. Với Fukuzawa, học không phải để có bằng cấp hay địa vị, mà để mỗi cá nhân có thể độc lập về tư duy và kinh tế – và một quốc gia chỉ thực sự độc lập khi từng công dân của nó độc lập.

Đây cũng là lý do tôi luôn xem “Khuyến học” như một cuốn sách gối đầu giường cho bất kỳ ai đang làm giáo dục, làm doanh nghiệp, hay đơn giản là đang nuôi dạy con cái: tinh thần tự học, tự chủ và không ỷ lại vào người khác hay hoàn cảnh, chính là nền móng cho mọi sự phát triển bền vững – của một con người lẫn một dân tộc.

Nguồn tham khảo

Bài viết Khuyến học – Cuốn sách truyền tư tưởng mạnh mẽ vực dậy nước Nhật vĩ đại đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/khuyen-hoc-cuon-sach-truyen-tu-tuong-manh-me-vuc-day-nuoc-nhat-vi-dai-28/feed/ 0
Cái Tên Trong Văn Hóa Người Việt: Danh, Húy, Tự, Hiệu, Thụy Và Hệ Thống Danh Xưng Đa Tầng https://nghianb.org/cai-ten-trong-van-hoa-nguoi-viet-danh-huy-tu-hieu-thuy-861/ https://nghianb.org/cai-ten-trong-van-hoa-nguoi-viet-danh-huy-tu-hieu-thuy-861/#respond Mon, 24 Aug 2026 15:41:43 +0000 https://nghianb.org/?p=861 Chu Văn An là cái tên được khắc trên hàng chục ngôi trường, đặt cho hàng trăm con đường khắp Việt Nam. Nhưng người thầy ấy chưa từng mang cái tên đó lúc sinh thời. Tên cha mẹ đặt cho ông là Chu An (朱安). Tên tự là Linh Triệt (靈徹). Tên hiệu là TiềuXem thêm

Bài viết Cái Tên Trong Văn Hóa Người Việt: Danh, Húy, Tự, Hiệu, Thụy Và Hệ Thống Danh Xưng Đa Tầng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Chu Văn An là cái tên được khắc trên hàng chục ngôi trường, đặt cho hàng trăm con đường khắp Việt Nam. Nhưng người thầy ấy chưa từng mang cái tên đó lúc sinh thời.

Tên cha mẹ đặt cho ông là Chu An (朱安). Tên tự là Linh Triệt (靈徹). Tên hiệu là Tiều Ẩn (樽隱) — người tiều phụ ở ẩn, phản chiếu chọn lựa từ quan về dạy học. Sau khi mất, ông được triều Trần truy phong tước Văn Trinh công (文貞公). Đời sau ghép chữ “Văn” trong tước hiệu ấy vào tên thật, thành “Chu Văn An”.

Bốn lớp tên, tương ứng bốn chặng: sinh ra, trưởng thành, tự chọn con đường, và được hậu thế định giá. Đây không phải trường hợp cá biệt mà là cấu trúc phổ biến trong xã hội Việt Nam truyền thống — ít nhất trong tầng lớp có học.

Bài viết này trình bày hệ thống ấy một cách có hệ thống, đồng thời làm rõ mấy điểm thường bị hiểu sai.

I. Nguyên lý: tên thay đổi theo tuổi tác và quan hệ lễ nghi

Thiên Đàn Cơng thượng (檀弓上) trong Lễ ký nêu nguyên tắc cổ điển:

幼名,冒字,五十以伯仲,死謚

Ấu danh, quán tự, ngũ thập dĩ bá trọng, tử thụy.

Đại ý: thuở nhỏ gọi bằng danh; đến tuổi làm lễ quán (đội mũ, khoảng hai mươi tuổi) thì có tự; khi đã cao niên có thể xưng theo thứ bậc bá, trọng; sau khi chết gọi bằng thụy.

Người Việt không áp dụng máy móc quy tắc này, nhưng nguyên lý nền tảng thì thấm sâu: tên gọi không cố định, mà biến đổi theo tuổi tác, địa vị và quan hệ lễ nghi.

Cần nhấn mạnh ngay một điều để tránh khái quát hóa quá đà: không phải người Việt xưa nào cũng có đủ danh, tự, hiệu và thụy. Hệ thống này phổ biến nhất trong hoàng tộc, quan lại, nho sĩ, tăng sĩ và những gia đình có truyền thống gia phả, tế tự. Người bình dân thường chỉ có tên chính, một tên gọi quen thuộc trong nhà, và đôi khi một tên dùng trong việc thờ cúng.

II. Phân loại: bốn nhóm danh xưng

Không phải mọi thứ dùng để gọi một người đều là “tên” theo cùng một nghĩa. Có thể phân thành bốn nhóm:

Nhóm 1 — Tên cá nhân: danh, húy, tự, hiệu.

Nhóm 2 — Tên trong một lĩnh vực chuyên biệt: bút danh, pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, đạo hiệu, biệt hiệu.

Nhóm 3 — Danh xưng xã hội: chức danh, quan hàm, tước hiệu, phong hiệu.

Nhóm 4 — Danh xưng sau khi chết: thụy hiệu, tên cúng cơm, tên hèm, miếu hiệu, thần hiệu, mỹ tự.

Ngoài ra, niên hiệu là tên của một thời kỳ trị vì và lăng hiệu là tên của lăng mộ — cả hai gắn chặt với một vị vua nhưng xét nghiêm ngặt không phải tên cá nhân.

Đáng chú ý, công trình chuẩn mực của PGS.TS Trịnh Khắc Mạnh — Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam — tổ chức tư liệu theo năm hạng mục: tên tự, tên hiệu, pháp hiệu, đạo hiệu và biệt hiệu. Nghĩa là pháp hiệu và đạo hiệu không tách rời thành một hệ riêng biệt, mà được xếp cùng hệ với tự và hiệu. Đây là điểm mà nhiều bài viết phổ thông thường bỏ qua.

III. Danh và húy: cùng một tên, hai cách nhìn

1. Danh — tên định danh

Danh (名) là tên cá nhân ban đầu, thường do cha mẹ hoặc người trưởng thượng đặt. Danh được dùng để ghi gia phả, đăng bộ, đi học, dự thi, làm quan, lập văn tự — nói chung là để xác định chính xác một người trong hệ thống hành chính và tông tộc.

Cha mẹ và bề trên có thể gọi người dưới bằng danh. Người ngang hàng hoặc người dưới gọi thẳng danh của người đáng kính lại bị xem là thiếu lễ.

2. Húy — cũng chính tên ấy, dưới nguyên tắc kiêng tránh

Húy (譳) vừa có nghĩa “tránh, kiêng nói”, vừa chỉ chính cái tên cần tránh gọi trực tiếp.

Điểm quan trọng thường bị hiểu sai: húy không phải một cái tên khác với danh. Nó chính là danh ấy, nhưng nhìn từ một góc độ khác. Khi ta dùng tên để nhận diện một người, đó là danh. Khi ta ý thức rằng không được xướng tên ấy lên vì phép tắc, nó trở thành húy.

Trong xã hội quân chủ, phép kỵ húy đặc biệt nghiêm với tên vua, tên tổ tiên của vua, tên người trong hoàng tộc, và trong phạm vi gia đình là tên cha mẹ, tổ tiên.

3. Hệ quả: kỵ húy làm thay đổi ngôn ngữ và bản đồ

Việc kỵ húy có thể dẫn tới: đổi cách viết, viết thiếu một nét, thay bằng chữ khác, đọc chệch âm, đổi tên người, đổi tên làng xã và địa danh.

Trường hợp Quảng Ngãi là ví dụ điển hình nhất và cũng gây tranh luận học thuật thú vị nhất.

Chúa Nghĩa — tức Nguyễn Phúc Thái (1650–1691), chúa Nguyễn đời thứ sáu, trị vì Đàng Trong 1687–1691, sau được truy tôn Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng đế — có danh hiệu chứa chữ Nghĩa (義). Ngô Đức Thọ ghi nhận: kiêng âm tên thụy, chữ Nghĩa đọc chệch thành Ngãi. Địa danh Dinh Quảng Nghĩa do đó thành Quảng Ngãi, tồn tại bền vững đến nay. Hiện tượng lan sang cả từ vựng thông thường: “ân nghĩa” → “ơn ngãi”, “tình nghĩa” → “tình ngãi” (Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, tr. 122).

Cùng cơ chế ấy ở Đàng Trong: Hoàng → Huỳnh (kiêng tên Nguyễn Hoàng), Nguyên → Nguôn (kiêng tên Nguyễn Phúc Nguyên), Nhân → Nhơn (kiêng hiệu Nhân Chiêu Vương Nguyễn Phúc Lan), Cảnh → Kiểng (kiêng tên hoàng tử Cảnh).

Điểm đặc thù vùng miền: khác với Đàng Ngoài nơi kiêng húy được ban hành bằng lệnh triều đình, ở Đàng Trong hiện tượng này chủ yếu tự phát trong dân gian — người dân tự đọc trại tên chúa vì lòng kính sợ, không cần sắc lệnh.

Tuy nhiên, cần ghi nhận một phản biện học thuật quan trọng. Các nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh và Nguyễn Anh Vũ lập luận rằng nhiều cặp âm kép như Nghĩa/Ngãi, Hoàng/Huỳnh, Phúc/Phước, Minh/Miêng không hoàn toàn do kiêng húy, mà phản ánh lớp âm cổ Hán Việt (thời Đường–Tống) được bảo lưu trong phương ngữ Nam Bộ, trong khi miền Bắc chuyển sang đọc theo âm đời Minh mới hơn.

Học giả An Chi trên báo Thanh Niên (14/11/2021) đưa ra cách dung hòa thuyết phục: nên phân biệt “âm gốc thuần túy” với “âm gốc được dùng làm âm kỵ húy”. Âm “Ngãi” có thể đã tồn tại sẵn, nhưng chính vì đã có sẵn một cách đọc thay thế nên dân gian mới chọn nó làm âm kiêng húy. Ông dẫn thêm bằng chứng từ chính sách của Ngô Đức Thọ cho thấy hiện tượng này xảy ra cả ở Đàng Ngoài: huyện Sơn Minh (Hà Tây cũ) bị đọc thành Sơn Miêng, huyện Tiên Minh (Hải Phòng) thành Tiên Miêng, do kiêng húy chúa Trịnh Doanh.

Nói cách khác: ngữ âm học lịch sử và tâm lý kiêng kỵ cộng hưởng với nhau, chứ không loại trừ nhau.

4. Về cách nói “tên úy”

Một số gia đình và địa phương nói “không được gọi tên úy của ông bà”. Xét từ nguyên: 譳 đọc là húy (kiêng, tên phải kiêng); 尉 mới đọc là úy (một chức quan võ). Vậy “tên úy” không phải thuật ngữ Hán–Việt chuẩn.

Cách nói này nhiều khả năng là biến âm truyền khẩu, hình thành chính từ tâm lý không muốn xướng thẳng chữ “húy” — kiêng đến mức kiêng luôn cả tên gọi của việc kiêng. Khi viết khảo cứu nên dùng húy, húy danh, tên húy; khi ghi lời người trong họ, có thể chú thích: “trong chi tộc quen đọc tránh là ‘tên úy'”.

IV. Tự: tên của người trưởng thành

1. Định nghĩa và phạm vi

Tự (字), còn gọi biểu tự (表字), là tên dùng khi một người đã trưởng thành và bước vào đời sống xã hội. Theo lễ chế cổ điển, nam giới khoảng hai mươi tuổi làm lễ quán, từ đó được gọi bằng tự thay vì gọi thẳng danh.

Ọc Việt Nam, tục đặt tự không phổ cập toàn dân, chủ yếu trong hoàng tộc, quan lại, nho sĩ, nhà giáo, văn nhân, tăng sĩ và gia đình có học. Phụ nữ có học trong gia đình danh giá cũng có thể có tự hoặc hiệu, dù tư liệu còn lại ít hơn.

2. Quan hệ ngữ nghĩa giữa danh và tự

Tự thường có quan hệ ý nghĩa với danh: giải thích, bổ sung, phát triển nghĩa của danh, dùng từ đồng nghĩa hoặc tương ứng.

Một số ví dụ Việt Nam:

Nhân vật Danh Tự Quan hệ
Nguyễn Du Du (攞) Tố Như (素如) Gợi sự thuần khiết, tự nhiên
Nguyễn Công Trứ Công Trứ (著 — nổi bật) Tồn Chất (存質 — giữ bản chất) Đối ứng: nổi bật nhưng giữ gốc
Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Văn Đạt Hanh Phủ (亨甫) Hanh thông, tốt đẹp
Chu An An (安) Linh Triệt (靈徹) Thấu suốt, sáng rõ

Ngoài phạm vi Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh cũng dùng các ví dụ kinh điển Trung Hoa để minh họa nguyên lý: Gia Cát Lượng tự Khổng Minh, Tào Tháo tự Mạnh Đức, Bao Chửng tự Hy Nhân.

3. Chức năng xã hội

Gọi người trưởng thành bằng tự thể hiện sự tôn trọng và thừa nhận tư cách xã hội của họ. Người tự xưng có thể dùng danh; người khác gọi với ý kính trọng thường dùng tự hoặc hiệu.

Tự không phải tên bí mật, cũng không thay thế hoàn toàn tên chính thức. Trong văn bản hành chính, khoa cử và gia phả, danh hoặc húy vẫn phải được ghi để xác định đúng người.

V. Hiệu: tên của căn cước tinh thần

1. Hiệu khác tự ra sao

Nếu tự gắn với sự trưởng thành và có quan hệ nghĩa với danh, thì hiệu (號) tự do hơn nhiều. Nó phản ánh chí hướng, nhân sinh quan, nơi ở, quê quán, tên núi sông, tên thư phòng, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, phong thái hoặc sở thích.

Một người có thể chỉ có một tự nhưng nhiều hiệu qua các giai đoạn khác nhau.

Ví dụ:

  • Nguyễn Trãi — hiệu Ức Trai
  • Nguyễn Bỉnh Khiêm — hiệu Bạch Vân cư sĩ, biệt hiệu dân gian Trạng Trình
  • Nguyễn Du — hiệu Thanh Hiên
  • Chu An — hiệu Tiều Ẩn
  • Nguyễn Công Trứ — hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn

2. Ai đặt hiệu

Hiệu thường do bản thân tự đặt, nhưng cũng có thể do bạn bè đặt, học trò tôn xưng, người đời gọi, hoặc hậu thế ghép với một địa danh, chức tước, đặc điểm nổi bật.

Từ đó có thể phân biệt tương đối: tự hiệu (tự mình đặt), biệt hiệu (tên gọi khác), ngoại hiệu / xước hiệu (do người khác đặt, mang tính khẩu truyền), tôn hiệu (danh xưng tôn kính được dâng hoặc ban).

3. Ranh giới tự và hiệu không phải lúc nào cũng rõ

Ngay trong giới nghiên cứu chuyên môn, việc phân định tự và hiệu đôi khi vẫn có sai sót. Nguyễn Tiến Lập (2015) đã chỉ ra rằng Chỉ Sơn của Trịnh Hoài Đức lâu nay vẫn bị nhiều công trình ghi là tên tự, trong khi thực chất là tên hiệu.

Điều này cho thấy khi đọc tư liệu, không nên mặc nhiên tin mọi nhãn “tự” hay “hiệu” mà cần đối chiếu văn bản đương thời.

VI. Tên trong lĩnh vực chuyên biệt

1. Bút danh, bút hiệu

Tên dùng để ký thơ văn, sách báo, công trình nghiên cứu, tác phẩm nghệ thuật. Có thể trùng với hiệu nhưng không bắt buộc.

  • Nam Cao là bút danh của Trần Hữu Tri
  • Tản Đà vừa mang tính bút danh vừa có cấu trúc của một hiệu (ghép núi Tản và sông Đà)
  • Thiều Chửu (笘帚 — nghĩa đen: cây chổi quét bụi) vừa là pháp danh vừa là bút danh của Nguyễn Hữu Kha, tác giả bộ Hán–Việt tự điển; tên tự của ông là Lạc Khổ

2. Pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, đạo hiệu

Trong Phật giáo, người quy y được ban pháp danh. Người xuất gia, tùy tông phái và truyền thừa, còn có thể có pháp tự, pháp hiệu, giới danh, đạo hiệu, và pháp thụy sau khi viên tịch.

Các thuật ngữ này không đồng nghĩa và cách dùng thay đổi theo truyền thống sơn môn. Không nên cho rằng mọi danh xưng bắt đầu bằng “Thích” đều là tên khai sinh, hay mỗi tăng sĩ chỉ có một pháp danh.

Trong Đạo giáo và các truyền thống tu hành khác cũng có đạo danh, đạo hiệu riêng.

3. Chức danh, quan hàm, tước hiệu

Người làm quan hoặc được phong tước có thể được gọi theo chức vụ (Thượng thư, Tổng đốc, Tham tri), hàm, tước (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam), phong hiệu, hoặc địa danh cai quản.

Những cách gọi như Ôn Như hầu, Uy Viễn tướng công, Hưng Đạo đại vương có thể nổi tiếng hơn tên húy, nhưng bản chất là tước hiệu và tôn xưng, không phải tên chính lúc sinh.

VII. Danh xưng sau khi chết

1. Thụy hiệu

Thụy (謚/謚), gọi đầy đủ là thụy hiệu, là tên hoặc danh hiệu đặt cho một người lúc cận tử hoặc sau khi mất, nhằm khái quát phẩm hạnh, công lao, sự nghiệp — hoặc cách hậu thế đánh giá người ấy.

Cần phân biệt hai cấp độ:

Nghĩa hẹp, theo lễ chế triều đình: thụy hiệu là danh hiệu có quy tắc, do nhà vua ban cho quan lại, công thần, hoặc do triều đình nghị định, hậu duệ truy tôn. Chữ dùng có nội dung đánh giá công đức rõ ràng.

Nghĩa rộng trong dân gian: tên đặt cho người quá cố để con cháu khấn gọi, ghi trên bài vị, viết trong văn tế, dùng ngày giỗ.

2. “Tên cúng cơm” — thuật ngữ bị hiểu sai nhiều nhất

Trong lời nói hiện đại, rất nhiều người dùng “tên cúng cơm” để chỉ tên thật, tên lúc nhỏ hoặc tên ở nhà.

Nhưng tra Hán–Việt tự điển của Thiều Chửu, mục chữ thụy (謚), ta thấy ông giải thích đó là tên đặt dựa theo tính hạnh của người sắp mất, “để khi cúng giỗ khấn đến gọi là thụy”, và chú thích rõ rằng người Việt gọi đó là tên cúng cơm. Cách giải thích tương tự tiếp tục được các từ điển Hán–Việt của Trần Văn Chánh và Nguyễn Quốc Hùng ghi nhận.

Chính hai chữ “cúng cơm” đã chỉ rõ ngữ cảnh: đây là tên liên quan trực tiếp đến việc khấn cúng, giỗ chạp, thờ phụng người đã mất — không phải tên gọi ở nhà của một đứa trẻ.

Muốn chỉ tên gọi trong nhà lúc còn sống, các từ chính xác hơn là nhũ danh (乳名 — tên lúc còn bú), ấu danh (幼名 — tên thuở nhỏ), tiểu danh (小名 — tên gọi nhỏ), hoặc đơn giản: tên ở nhà.

Cách diễn đạt thận trọng nhất: trong phong tục Việt Nam, “tên cúng cơm” là tên dùng trong việc cúng giỗ người đã mất, thường trùng hoặc chồng lấn với tên thụy, tên hèm; nhưng thụy hiệu chính thức của vua quan còn thuộc một hệ thống lễ chế và chính trị riêng.

3. Tên hèm

“Tên hèm” là thuật ngữ đa nghĩa, có thể chỉ: tên phải kiêng không gọi công khai; tên kín của người đã mất; tên của thần linh chỉ xướng trong nghi lễ; tên thụy hoặc tên cúng; hoặc chính tên húy được giữ kín.

Chữ “hèm” gắn với ý niệm kiêng kỵ. Trong tín ngưỡng làng xã, “hèm” còn chỉ những điều bí mật hoặc kiêng cấm liên quan đến vị thần được thờ.

Khi gia phả ghi “hèm”, cần xem tên ấy đứng ở đâu — sau chữ húy, tự, hiệu, thụy, trên bài vị, trong văn tế hay thần tích — mới xác định được tính chất.

4. Vì sao ghi húy nhưng không gọi húy

Một thắc mắc thường gặp: gia phả ghi rõ tên húy, nhưng con cháu khi cúng lại không gọi bằng húy. Đây không phải mâu thuẫn mà là hai chức năng khác nhau:

Ghi chép để xác định nhân thân. Gia phả ghi “húy là…, tự là…, hiệu là…, thụy là…” nhằm xác định đúng người, nối đúng thế hệ, tránh nhầm lẫn.

Xưng gọi trong nghi lễ. Khi đọc văn tế, khấn giỗ hoặc ghi bài vị, ưu tiên tự, hiệu, thụy, tên cúng cơm, pháp danh — kèm mỹ xưng như phủ quân, tiên sinh, công, quân, phu nhân.

Ghi để nhớ chính xác; gọi để tỏ lòng kính.

VIII. Danh xưng nghi lễ không phải là tên

Trong bài vị và văn khấn thường gặp: hiển khảo, hiển tỷ, hiển tổ khảo, hiển tổ tỷ, tiên khảo, tiên tỷ, phủ quân, nhụ nhân, lão phụ, công, quân.

Đây chủ yếu là danh xưng nghi lễ, không phải tên riêng:

  • Hiển khảo (顯考): kính xưng người cha đã mất
  • Hiển tỷ (顯妖): người mẹ đã mất
  • Phủ quân (府君): mỹ xưng cho nam giới. Lưu ý: trong gia phả và bài vị thường chỉ người đã khuất, nhưng trong thư từ và giao tiếp cũng có thể tôn xưng người đang tại thế
  • Nhụ nhân (孺人): một cấp trong hệ thống phong hiệu cho phụ nữ theo phẩm trật của chồng, không đơn thuần là cách tôn xưng chung

Một bài vị đầy đủ có thể ghép nhiều tầng: hiển khảo + chức tước + họ + húy + tự + thụy + phủ quân. Không nên coi toàn bộ chuỗi ấy là “một cái tên” — đó là cấu trúc gồm quan hệ thân tộc, chức tước, tên cá nhân và mỹ xưng tế tự.

IX. Hệ thống danh xưng của vua chúa

Một vị vua có thể đồng thời mang nhiều tên và danh hiệu, khiến sử sách dễ gây nhầm lẫn.

  • Húy — tên cá nhân, bị kiêng nghiêm ngặt nhất.
  • Niên hiệu (年號) — tên của thời kỳ dùng để tính năm. Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân đều là niên hiệu, không phải tên thật. Một vua có thể dùng một hoặc nhiều niên hiệu.
  • Miếu hiệu (廟號) — danh hiệu dùng khi thờ trong tông miếu, thường kết thúc bằng Tổ hoặc Tông: Lý Thái Tổ, Trần Thái Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Thế Tổ, Nguyễn Dực Tông.

Không phải mọi vua đều có miếu hiệu. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế ghi nhận các trường hợp Thành Thái, Duy Tân và Bảo Đại không có miếu hiệu, thụy hiệu như các vua được thờ chính thức tại Thế Miếu.

  • Thụy hiệu — danh hiệu sau khi mất, thường rất dài, gồm nhiều mỹ tự.
  • Tôn hiệu (尊號) — danh hiệu tôn kính do quần thần hoặc hậu thế dâng lên; có thể dâng khi còn sống, sau khi nhường ngôi, hoặc sau khi mất. Không đồng nhất với thụy hiệu.
  • Lăng hiệu — tên lăng mộ; gắn với nhà vua nhưng là tên công trình.

Đế hệ thi: khi cái tên trở thành tọa độ dòng tộc

Vua Minh Mạng thiết lập một hệ thống đặt tên độc đáo cho hoàng gia. Ông đặt ra bài thơ Đế hệ thi (帝系詩) gồm 20 chữ, quy định tên đệm cho 20 đời con cháu dòng đích. Đồng thời, phần tên chính (chữ cuối) phải chứa bộ thủ thuộc ngũ hành — kim 金, mộc 木, thủy 水, hỏa 火, thổ 土 — luân chuyển theo đời.

Năm chữ đầu của Đế hệ thi là Miên (綿), Hồng (洪), Ứng (膳), Bửu (寶), Vĩnh (永), tương ứng năm đời đầu tiên. Vua Thiệu Trị tên Miên Tông, vua Tự Đức tên Hồng Nhậm, vua Hàm Nghi tên Ứng Lịch — đọc tên là biết ngay thế hệ.

Đây là ví dụ đặc sắc nhất về việc tên gọi mang tính hệ thống, phản ánh đồng thời vũ trụ quan ngũ hành và ý chí chính trị của hoàng gia.

X. Khi một nhân vật được thờ làm thần

Người có công với cộng đồng sau khi mất có thể được lập đền thờ, tôn làm thành hoàng, ban thần hiệu, gia phong mỹ tự, và nhận sắc phong qua nhiều triều đại.

Thần hiệu là danh hiệu của vị thần trong hệ thống thờ phụng. Mỹ tự là những chữ đẹp triều đình ban thêm để biểu dương linh ứng, công đức. Sắc phong là văn bản của nhà vua xác nhận và phong tặng.

Một nhân vật lịch sử vì thế có thể có: tên húy khi còn sống → chức tước → thụy hiệu sau khi mất → thần hiệu và nhiều lớp mỹ tự khi được thờ phụng.

Những lớp danh xưng này phản ánh không chỉ tiểu sử cá nhân, mà cả quá trình cộng đồng kiến tạo ký ức về họ.

XI. Chiều cạnh vùng miền

Hệ thống trình bày ở trên chủ yếu phản ánh truyền thống Nho học, phổ biến nhất ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Thực tế Việt Nam đa dạng hơn.

Ọc Nam Bộ, nơi xã hội ít bị ràng buộc bởi lễ giáo Nho học chặt chẽ, hệ thống tự và hiệu ít phổ biến trong dân gian. Thay vào đó, cách gọi theo thứ tự sinh rất thịnh hành: ông Hai, bà Ba, chú Năm, cô Bảy. Đây không phải tên mà là cách xưng hô xã hội, nhưng mạnh đến mức có thể thay thế hoàn toàn tên chính trong đời sống hằng ngày.

Ọc các vùng dân tộc thiểu số, hệ thống tên hoàn toàn khác. Một số dân tộc Tây Nguyên có tục phụ tử liên danh (tên cha nối vào tên con). Nhiều dân tộc vùng núi phía Bắc đặt tên theo sự kiện lúc sinh hoặc theo ước nguyện, không theo mô hình họ – đệm – tên của người Kinh.

Sự đa dạng này nhắc rằng khi nói “tên trong văn hóa Việt Nam”, ta đang nói về một bức tranh nhiều lớp, không thể quy giản về một mô hình duy nhất.

XII. Bảng tổng hợp theo vòng đời

Giai đoạn Loại danh xưng Công dụng
Mới sinh, còn nhỏ Ấu danh, nhũ danh, tiểu danh, tục danh Gọi thân mật trong gia đình
Có tên chính thức Danh Định danh, ghi gia phả, khoa cử
Trong quan hệ tôn kính Húy Danh dưới nguyên tắc kiêng gọi thẳng
Trưởng thành Tự Giao tiếp lễ nghi, liên hệ nghĩa với danh
Đời sống học thuật Hiệu, biệt hiệu Biểu đạt chí hướng, phong cách sống
Sáng tác Bút danh, bút hiệu Ký tác phẩm
Tu hành Pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, đạo hiệu Căn cước tôn giáo
Làm quan, được phong Chức danh, quan hàm, tước hiệu, phong hiệu Địa vị, phẩm trật
Cận tử / sau khi chết Thụy hiệu Nhận định phẩm hạnh
Tế tự gia đình Tên cúng cơm, tên hèm Khấn giỗ, thờ phụng
Vua khi trị vì Niên hiệu Tên thời kỳ, không phải tên người
Vua sau khi chết Miếu hiệu, thụy hiệu Thờ trong tông miếu
Được thần hóa Thần hiệu, mỹ tự Thờ thần, sắc phong
Lăng mộ vua Lăng hiệu Tên công trình, không phải tên người

XIII. Kết luận: tên là một tiểu sử văn hóa

Trong văn hóa Việt Nam truyền thống, tên không chỉ để phân biệt người này với người khác. Mỗi loại tên là một lớp quan hệ giữa cá nhân với gia đình, xã hội và hậu thế:

  • Danh xác nhận con người được sinh ra
  • Húy nhắc rằng danh ấy gắn với sự kính trọng và kiêng tránh
  • Tự xác nhận người ấy đã trưởng thành
  • Hiệu biểu đạt con người mà họ tự lựa chọn hoặc mong muốn trở thành
  • Bút danh, pháp danh, chức tước phản ánh hoạt động, niềm tin và địa vị
  • Thụy là lời nhận định của người sống về một đời đã khép lại
  • Tên cúng cơm đưa người đã mất trở lại trong lời khấn và ký ức gia đình
  • Miếu hiệu, thần hiệu, mỹ tự đặt họ vào ký ức của triều đại hoặc cộng đồng

Có thể tóm gọn:

Danh là tên cha mẹ trao; tự là tên bước vào đời; hiệu là tên của chí hướng; thụy là tên hậu thế trao lại.

Nhận định rằng người đã khuất trong gia phả thường được gọi bằng tự, hiệu hoặc thụy thay vì gọi thẳng húy là hoàn toàn phù hợp với logic lễ nghi cổ truyền. Điểm cần lưu ý chỉ là: tự, hiệu và thụy không đồng nghĩa. Tự và hiệu đã có từ khi còn sống và tiếp tục được dùng sau khi mất vì tính trang trọng; trong khi thụy và tên cúng cơm là danh xưng phát sinh trực tiếp từ việc đánh giá, tưởng niệm và thờ cúng người quá cố.

Quay lại với thầy Chu An mở đầu bài viết: cái tên “Chu Văn An” mà chúng ta dùng hôm nay chính là sản phẩm của quá trình ấy — một cái tên được lịch sử bồi đắp, chứ không phải cái tên cha mẹ đặt.

Tài liệu tham khảo

  • Trịnh Khắc Mạnh, Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tái bản có sửa chữa và bổ sung, 2019. Bản bổ sung mới nhất: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2024.
  • Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại – Les caractères interdits au Vietnam à travers l’histoire, Emmanuel Poisson dịch và chú giải phần tiếng Pháp, Publication du Centre de l’École Française d’Extrême-Orient au Vietnam, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1997.
  • Nguyễn Tiến Lập, “Tên tự, tên hiệu và trường hợp Trịnh Hoài Đức”, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, số 10 (76), 2015, tr. 133–140.
  • An Chi, “Lắt léo chữ nghĩa: Về vấn đề kỵ húy”, báo Thanh Niên, 14/11/2021.
  • Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, phần “Tang ma”, đầu thế kỷ XX.
  • Thiều Chửu (Nguyễn Hữu Kha), Hán–Việt tự điển, các mục 譳 húy, 字 tự, 號 hiệu, 謚/謚 thụy.
  • Đào Duy Anh, Hán–Việt từ điển giản yếu, xuất bản lần đầu 1932.
  • Hội Khai Trí Tiến Đức, Việt Nam tự điển, Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1931.
  • Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, bản dịch Viện Sử học.
  • Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, bản dịch Viện Sử học.
  • Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch và hiệu đính của Viện Sử học.
  • Viện Nghiên cứu Hán Nôm, các bài nghiên cứu trên Tạp chí Hán Nôm.
  • Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, tư liệu về Thế Miếu và miếu hiệu các hoàng đế triều Nguyễn.

Bài viết Cái Tên Trong Văn Hóa Người Việt: Danh, Húy, Tự, Hiệu, Thụy Và Hệ Thống Danh Xưng Đa Tầng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/cai-ten-trong-van-hoa-nguoi-viet-danh-huy-tu-hieu-thuy-861/feed/ 0
Thú đọc sách – Chủ nhật ngày 22 tháng 9 năm 2024 https://nghianb.org/thu-doc-sach-chu-nhat-ngay-22-thang-9-nam-2024-717/ https://nghianb.org/thu-doc-sach-chu-nhat-ngay-22-thang-9-nam-2024-717/#respond Sun, 22 Sep 2024 06:04:35 +0000 https://nghianb.org/?p=717 Theo tác giả Thu Giang – Nguyễn Duy Cần, đối với người Á Đông, khi đọc sách điều cốt yếu là tìm cho được cuốn sách nào khiến cho người đọc rung động, bừng lên cái ánh sáng của sự thay đổi, cảm hứng tới từ bên trong tâm hồn chứ không đơn thuần làXem thêm

Bài viết Thú đọc sách – Chủ nhật ngày 22 tháng 9 năm 2024 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Theo tác giả Thu Giang – Nguyễn Duy Cần, đối với người Á Đông, khi đọc sách điều cốt yếu là tìm cho được cuốn sách nào khiến cho người đọc rung động, bừng lên cái ánh sáng của sự thay đổi, cảm hứng tới từ bên trong tâm hồn chứ không đơn thuần là thu nạp kiến thức một cách khô khốc. Trên trải nghiệm cá nhân, tôi hoàn toàn đồng ý với tư tưởng của cụ Thu Giang, ít nhiều trong cuộc sống người Việt chúng ta ai cũng từng có đã tiếp xúc với một hay một vài cuốn sách khiến chúng ta bừng tỉnh, khiến ta ngấu nghiến từng hơi thở mang theo năng lượng của lý tưởng trong những cuốn sách đó. Khiến ta muốn đọc đi đọc lại một ý tưởng nào đó, một kiến thức “mới” nào đó…. Đó là những cuốn sách thay đổi cuộc đời.

Trong lĩnh vực giáo dục, không có gì đáng quý hơn việc Khuyến học cho trẻ, trong việc Khuyến học, không có gì tôi thấy hiệu quả hơn việc Khuyến đọc cho trẻ. Vì sao ư? Vì 1 cuốn sách hay là tinh hoa cả 1 đời của một tác giả đã hấp thu tịn hoa từ hàng nghìn “vị thầy” đã lĩnh ngộ hàng vạn năm kinh nghiệm rồi. Trong khi một người thầy giáo chỉ có bấy nhiêu năm trải nghiệm, tiếp xúc ngắn ngủi, sao có thể đi kèm với 1 người giống như những bậc thiện tri thức ngàn đời!

Khi đọc sách, tôi thích đọc những cuốn sách của các nhà triết học Á Đông, Hy Lạp, một số học giả nổi tiếng người Đức hơn cả. Không phải vì người này giỏi hơn người kia, chỉ đơn giản vì từng câu chữ, ý nghĩa trong sách họ viết ra như khơi gợi sức sống ngủ quên trong tâm hồn tôi, sách đó thực sự đọc cho tâm hồn chứ không phải cho phần thể xác đơn thuần.

Cuốn sách này của một Thầy, Hoà Thượng Thích Thiên Ân, xuất thân từ Phú Vang, Huế, nhưng tu học phần lớn tại Nhật Bản, thiền Lâm Tế, và sau đó cống hiến cho lĩnh vực tôn giáo của Việt Nam và cuối cùng là những năm tháng cống hiến cho Đạo và giảng dạy tại Hoa Kỳ. Sách của thầy Thích Thiên Ân nói riêng, sách chả các bậc Cao tăng nói chung đều rất dễ dàng đi vào trong tôi, cho dù có những thuật ngữ cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt tôi chưa từng nghe qua trong đời, chỉ là ngay lúc đó tôi chưa hiểu được, nhưng vào 1 khoảnh khắc nào đó trong đời, nó tự nhiên vỡ ra giống như việc gieo 1 hạt vào đất, khi đủ ẩm vs dưỡng chất nó nứt ra và nảy lên 1 mầm mới. Tôi hiểu rằng, đó là vì tôi đã từng gieo trong tâm hồn mình 1 ý niệm từ 1 người thầy nào đó!

Cuốn sách này không chỉ đơn thuần về lược sử đất nước Nhật Bản, một nước Á Đông có rất nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, mà còn có cả một hành trình đi lên quật cường của một dân tộc vốn dĩ rất khó quần tụ do điều kiện tự nhiên thì cũng đã được đoàn kết với những tư tưởng nổi bật, những cá nhân kiệt xuất khai phóng dẫn dắt. Minh Trị Duy Tân, một sự đột phá của thời cận đại nhưng trước đó thì Hiến pháp 17 điều của vị Thánh Đức Thái Tử cũng thật ấn tượng với việc đưa luôn Phật giáo vào trong hiến Pháp với khả năng Đức trị kết hợp Pháp trị. Điều này khá tương đồng với những thời kỳ phong kiến cực thịnh của Việt Nam chúng ta, khi các vị Minh Quân một lòng phụng sự dân với tư tưởng Phật giáo dẫn dắt. Gần gũi nhất có lẽ là vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), người đã dời đô về Thăng Long mang lại sự ổn định lâu dài cho dân tộc Việt, người được nuôi dưỡng bởi bậc hiền tăng, sư Vạn Hạnh, thấm nhuần tư tưởng Phật giáo từ tấm bé!

Thật khâm phục tư tưởng Minh Trị Duy Tân, chỉ từ năm 1868 mà đã chủ trương chỉnh lý triều đình với điểm nhấn thành lập chế độ Lưỡng triều nhiếp chính tương tự hệ thống Thượng Viện, Hạ viện của Quốc hội các quốc gia tiên tiến phương Tây lúc bấy giờ, chủ trương cho người trẻ đi khắp nơi trên thế giới để mang kiến thức về xây dựng đất nước…

Cách mà tác giả, thầy Thích Thiên Ân viết thật khó lòng rời mắt khỏi cuốn sách.

Ngàn lần tán thán công đức của Thầy!

Bài viết Thú đọc sách – Chủ nhật ngày 22 tháng 9 năm 2024 đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/thu-doc-sach-chu-nhat-ngay-22-thang-9-nam-2024-717/feed/ 0
Mỗi người đều là thiên tài theo cách riêng https://nghianb.org/moi-nguoi-deu-la-thien-tai-theo-cach-rieng-494/ https://nghianb.org/moi-nguoi-deu-la-thien-tai-theo-cach-rieng-494/#respond Thu, 27 Jul 2023 09:09:59 +0000 https://nghianb.org/?p=494 Mỗi chúng ta đều là 1 thiên tài, theo cách riêng của mình. Thật vậy, nếu chúng ta đánh giá năng lực của một con cá dựa vào khả năng leo cây, có lẽ cả đời con cá đó sẽ phải sống với niềm tin rằng nó ngu ngốc. Thế giới cần nhiều loại năngXem thêm

Bài viết Mỗi người đều là thiên tài theo cách riêng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Mỗi chúng ta đều là 1 thiên tài, theo cách riêng của mình. Thật vậy, nếu chúng ta đánh giá năng lực của một con cá dựa vào khả năng leo cây, có lẽ cả đời con cá đó sẽ phải sống với niềm tin rằng nó ngu ngốc.

Thế giới cần nhiều loại năng lực để phát triển

Có một điều rõ ràng rằng thế giới này cần có đủ loại người với đủ loại tài năng và kỹ năng để có thể phát triển, nhìn hẹp hơn là 1 đất nước, hẹp hơn nữa là 1 doanh nghiệp. Chúng ta không thể đòi hỏi cả 1 tổ chức chỉ toàn những kỹ sư thượng hạng mà không có ai có khả năng ăn nói, không ai có khả năng bán hàng, marketing, kế toán, pháp lý… mà doanh nghiệp đó có thể phát triển. Thực tế, với ví dụ đó thì nó đâu đó vẫn có thể phát triển, nhưng sẽ bị thâu tóm bởi 1 công ty khác!

Tạo hóa cho chúng ta những năng lực tiềm ẩn, nhưng mỗi người bình thường chỉ có thể sở hữu một vài năng lực nổi trội trong số đó. Rất rất hiếm hoi có ai đó trở nên “toàn diện” theo cách như các thiên tài trên thế giới tự cổ chí kim đã làm được, những thiên tài như Leonardo Da Vinci, hay Michelangelo, Pythagoras, hay Elon Musk, Jeff Bezos… thực sự không nằm trong tầm với của hầu hết chúng ta.

giao-duc-hien-dai-sai-lam

Nếu một bạn nhỏ nào đó với tài năng toán học xuất sắc, có lẽ khả năng bạn này sẽ hơi ngây dại với đời, dễ dàng để người khác dẫn dụ vào suy nghĩ của người khác, bạn đó có thể bị thiếu hụt kỹ năng sống, năng lực thấu cảm giữa người – người. Hay một ai đó có tài ăn nói sáng tạo thì cũng có thể đâu đó khó mà bộc lộ được năng khiếu toán học, thường xuyên gặp khó khăn khi phải tư duy logic trong nhiều bước, chơi cờ có thể không giỏi, chi tiết nhỏ thiếu kiên nhẫn. Năng khiếu âm nhạc, hội họa cũng hiếm khi đi cùng với một tư duy sắc bén về logic học.

Tới đây, tôi chợt nhớ tới 1 trường hợp người Mỹ, một người từng học guitar ở mức độ amateur tới gần 40 tuổi vẫn chỉ tự đánh tưng tưng cho vui. Nhưng sau 1 tai nạn tổn thương nặng não trái, bác sỹ chẩn đoán khó hồi phục, thậm chí mất trí nhớ. Sau đó, người này hồi phục lại một cách lạ thường, trí nhớ hoàn toàn bình thường và bỗng dưng trong 1 ngày đẹp trời sau đó, tới nhà họ hàng chơi, thấy cây đàn piano thì tự ngồi xuống đánh từ 8h tối đến tận sáng hôm sau, mặc dù cuộc đời chưa từng học đàn. Chắc người VN một số người gọi là ma nhập, còn khoa học, có thể đưa ra giả định rằng thương tật nặng ở não trái của người này, có thể đã kích hoạt mạnh vùng não phải ở khu vực liên quan tới âm nhạc, khiến cho người này bỗng dưng nó năng khiếu thiên tài trong đàn piano. Ông này vẫn còn sống và đang là một trong những nghệ sĩ Piano rất ăn khách tại Mỹ, tôi thì quên tên rồi, chắc với keywords trên đây, ai đó tò mò vẫn có thể tìm được thông tin trên google.

Sự hạn chế của giáo dục hiện đại

Khi nói về giáo dục – hình minh họa dưới đây tóm tắt mức độ bất công mà nó có thể xảy ra một cách hoàn hảo. Thật ngu ngốc khi đánh giá mọi người bằng cùng một bộ số liệu mà không xem xét những điểm mạnh riêng của họ.

richard-branson-tu-truyen

Mọi người nên được phép theo đuổi sở thích và phát triển thế mạnh của mình, và điều này nên bắt đầu từ trường học chứ không phải các khóa học phụ đạo, chương trình ngoại khóa, hay những lớp học đặc biệt. Chỉ vì chúng ta không xuất sắc trong một số lĩnh vực nhất định, chúng ta không nên cảm thấy thấp kém hoặc tồi tệ về bản thân. Sự khác biệt của chúng ta nên được tôn vinh và đón nhận chứ không phải bị bóp nghẹt.

nguoi-noi-tieng-mac-chung-kho-doc
Bạn nhận ra những ai trong số những hình ảnh trên đây, những người đã phải vật lộn với chứng khó đọc

Sir Richard Brandson nổi tiếng với tập đoàn Virgin và cuốn sách SCREW IT, LET’S DO IT cũng là một trong số nhiều người vĩ đại bị chứng khó đọc (dyslexia) đã thống kê riêng cả tỷ lệ những người nổi tiếng top đầu thế giới mắc chứng khó đọc, con số quả thực đáng ngạc nhiên, có tới 1/3 số chủ doanh nghiệp được chẩn đoán là hoặc có thể mắc chứng khó đọc, một tình trạng khó khăn trong học tập, làm giảm khả năng đọc, viết và đánh vần của một người. Đây cũng là tật từ nhỏ chứ không phải do trẻ lười biếng gây ra.

Chúng ta và con cái chúng ta cũng vậy, nó có thể thích làm game và tỏa sáng khi sáng tạo game. Nó có thể thích làm y tá chuyên chăm sóc trẻ sơ sinh vì tình yêu với những sinh linh bé bỏng. Nó có thể làm một người bảo vệ công lý tại tòa vì yêu công lý. Nó có thể muốn làm một cầu thủ bóng đá vì yêu thể thao. Nó có thể trở thành một họa sỹ ẩn dật vì không đam mê vật chất và chỉ thích sáng tác bay bổng…. Chúng ta có thể là bất kỳ thứ gì chúng ta muốn, mọi năng lực đều cần thiết để phát triển thế giới này.

Nếu có thể làm được gì cho con trẻ, phục vụ cho việc giáo dục tốt nhất thì tôi nghĩ đó là hãy cố gắng nhìn sâu vào bên trong năng lực của những đứa trẻ, tìm hiểu xem nó thực sự có năng lực gì, khơi gợi niềm đam mê, khích lệ động viên nó dũng cảm theo đuổi đam mê, cho phép chúng thật bại để học hỏi từ thất bại. Cho phép nó gặp nghịch cảnh và vượt qua nghịch cảnh bằng năng lực tự thân. Hãy dạy nó và chỉ dạy nó nhiều nhất về cách sống tự trọng, về đạo đức làm người và sự chân thật, đó mới là hành trang tốt nhất cha mẹ có thể trang bị cho trẻ khi chúng vào đời.

Tất cả chúng ta đều tỏa sáng hơn khi chúng ta được tự do làm những gì chúng ta yêu thích và khi chúng ta tìm thấy những tài năng độc đáo của mình. Bản thể chúng ta khác biệt, năng lực khác biệt, duy nhất chỉ có nền tảng nhân cách sống thiện lương chúng ta hãy cố gắng giữ cho con người và những đứa trẻ giống như nhau!

Bài viết Mỗi người đều là thiên tài theo cách riêng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/moi-nguoi-deu-la-thien-tai-theo-cach-rieng-494/feed/ 0
Mark Twain và 12 câu nói nổi tiếng theo cùng năm tháng https://nghianb.org/mark-twain-va-12-cau-noi-noi-tieng-theo-cung-nam-thang-468/ https://nghianb.org/mark-twain-va-12-cau-noi-noi-tieng-theo-cung-nam-thang-468/#respond Sun, 23 Jul 2023 08:48:43 +0000 https://nghianb.org/?p=468 Cuộc đời của nhà văn Mỹ Mark Twain vẫn còn là một bí ẩn với hành trình văn chương là những tác phẩm khó hiểu mà phải đến 100 năm sau khi ông qua đời (2010), thế giới mới có bộ xuất bản đầu tiên và gây nhiều tranh cãi. Dưới đây là 12 câuXem thêm

Bài viết Mark Twain và 12 câu nói nổi tiếng theo cùng năm tháng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Cuộc đời của nhà văn Mỹ Mark Twain vẫn còn là một bí ẩn với hành trình văn chương là những tác phẩm khó hiểu mà phải đến 100 năm sau khi ông qua đời (2010), thế giới mới có bộ xuất bản đầu tiên và gây nhiều tranh cãi.

Mark-Twain-1907

Dưới đây là 12 câu nói giản dị nhưng rất tuyệt vời của ông.

  1. “Hãy cho mỗi ngày cơ hội để trở thành ngày đẹp nhất trong cuộc đời bạn”
  2. “Cảm giác lo sợ cũng giống như trả món nợ mà bạn không vay”
  3. “Đôi khi chỉ cần hít một hơi thật sâu”
  4. “Bất cứ khi nào bạn thấy mình đứng về phía đám đông, đã đến lúc để dừng bước và tự ngẫm lại mình”
  5. “Đừng sợ cái chết. Tôi đã chết hàng tỉ năm trước khi sinh ra mà vẫn không cảm thấy bất tiện chút nào”
  6. “Tôi chưa bao giờ để trường học làm ảnh hưởng đến học thức của mình”
  7. “Tuổi tác chỉ là vấn đề của tâm trí đối với sự vật”
  8. “Cuộc sống ngắn ngủi, hãy cứ phá lệ. Tha thứ nhanh chóng, ôm hôn chầm chậm. Yêu thật lòng. Cười thoải mái và không bao giờ tiếc bất cứ điều gì có thể làm bạn mỉm cười”
  9. “Bí quyết để vượt lên phía trước là hãy khởi hành”
  10. “Hai mươi năm sau kể từ thời điểm hiện tại, bạn sẽ thất vọng về những điều mình đã không làm hơn là những thứ bạn đã làm. Hãy tháo neo, rời bến bờ an toàn, đón lấy ngọn gió trên hành trình của bạn. Cứ tiến lên, ước mơ và khám phá”.
  11. “Thế giới như một quyển sách, ai chưa đi nhiều như chỉ đọc có vài trang”
  12. “Lòng tốt là thứ ngôn ngữ mà người điếc có thể nghe và người mù có thể thấy”

nghianb.org

Bài viết Mark Twain và 12 câu nói nổi tiếng theo cùng năm tháng đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/mark-twain-va-12-cau-noi-noi-tieng-theo-cung-nam-thang-468/feed/ 0
Phức cảm vượt trội – một dạng tự ti bị ẩn giấu https://nghianb.org/phuc-cam-vuot-troi-mot-dang-tu-ti-bi-an-giau-418/ https://nghianb.org/phuc-cam-vuot-troi-mot-dang-tu-ti-bi-an-giau-418/#respond Tue, 11 Apr 2023 15:12:45 +0000 https://nghianb.org/?p=418 Phức cảm vượt trội là giả vờ bản thân là người mạnh mẽ, vĩ đại và hoàn hảo để che giấu đi phức cảm tự ti. Cũng giống như họ giả vờ tỏ ra cao lớn bằng cách đi trên ngón chân của mình, mặc dù bản thân thật sự thấp bé. Chúng ta cóXem thêm

Bài viết Phức cảm vượt trội – một dạng tự ti bị ẩn giấu đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>

Phức cảm vượt trội là giả vờ bản thân là người mạnh mẽ, vĩ đại và hoàn hảo để che giấu đi phức cảm tự ti. Cũng giống như họ giả vờ tỏ ra cao lớn bằng cách đi trên ngón chân của mình, mặc dù bản thân thật sự thấp bé.

alfred-adler

Chúng ta có thể đâu đó đã được nghe nói tới những từ như tự ti, ngược lại với nó có thể là từ “ảo tưởng sức mạnh” “tự tin thái quá”… Theo Adler, nếu 1 người thường xuyên ở trong trạng thái cảm thấy mình vượt trội, thậm chí còn cảm thấy những người quanh mình đặc biệt là bố mẹ mình, con cái của mình là vượt trội (nhưng thực tế thì không được như vậy). Tình trạng thường xuyên ở trong trạng thái đó, cộng với các hành động, suy nghĩ thể hiện tình trạng đó có thể được coi như một người đang có phức cảm Vượt trội. Tình trạng này nếu so với phức cảm tự ti, về sâu xa cũng có nhiều điểm tương đồng.

phuc-cam-vuot-troi

Dấu hiệu của người mang phức cảm vượt trội

Phức cảm vượt trội là sự đề cao tới mức phóng đại về giá trị bản thân. Nó che giấu cảm giác thực sự của sự tầm thường.Theo Anfred Adler, cha đẻ của trường phái tâm lý học cá nhân, ông cho rằng phức cảm vượt trội và phức cảm thua kém sẽ đi đôi với nhau. Điều này tôi thấy cũng là đúng đắn như quy luật của tự nhiên có âm – có dương, có cực âm thì có cực dương, nếu coi mỗi cá nhân là 1 chỉnh thể luôn có xu hướng cân bằng trở lại để tồn tại thì điều này chẳng thể sai.

Adler cho rằng một người luôn có cách hành xử hơn người và coi người khác là kém cỏi hơn thực sự đang che giấu cảm giác tự ti ẩn sâu bên trong. Tương tự như vậy, một số người có khát vọng cao có thể cố gắng xoay sở bằng cách giả vờ khiêm tốn hoặc che giấu năng lực bản thân.

Những người mang phức cảm vượt trội có một vài đặc điểm chung: luôn coi mình là thông minh vượt trội, luôn tin rằng mình xuất thân cao quý, con cái của họ luôn giỏi hơn những đứa trẻ khác, tin rằng nếu bản thân mình, người thân của mình, con cái mình… không bằng người khác thì đó là điều không may mắn chứ không phải do năng lực… mặc dù sự thật có thể là hoàn toàn ngược lại. Những người này đa số sử dụng phức cảm vượt trội như một công cụ để vượt qua trạng thái tầm thường của bản thân, hoặc/ và che giấu những thất bại nặng nề trong quá khứ…)

Tâm lý học cá nhân của Adler dựa trên ý tưởng rằng tất cả chúng ta đang cố gắng vượt qua cảm giác không phù hợp hoặc thấp kém, và điều này tạo động lực cho chúng ta thành thạo các kỹ năng và sống một cuộc sống có ý nghĩa.

Vượt qua cảm giác thua kém là động lực để chúng ta sống cuộc sống mà chúng ta muốn. Trong bối cảnh này, phức cảm vượt trội là kết quả hoặc là phản ứng đối với việc không đạt được một mục tiêu nào đó hoặc không đáp ứng được mong đợi của bản thân.

Nói cách khác, người mang phức cảm vượt trội thường không cố gắng dành năng lượng vào đúng chỗ để trở nên mạnh mẽ, thay vì vậy họ có xu hướng đánh bóng, màu mè khiến cho họ trông có vẻ đẹp hơn thực tế.

Điều gì gây ra phức cảm vượt trội

Nguyên nhân thực sự hình thành phức cảm vượt trội vẫn còn chưa được rõ ràng mà chỉ là các giả thuyết. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn đó là, phức cảm vượt trội được hình thành với một múc đích rõ ràng và không có ai sinh ra đã có phức cảm vượt trội và không phải một người chỉ đôi lúc (hiếm khi) có suy nghĩ “mình vượt trội” đã bị coi là mắc phức cảm vượt trội. Người mang phức cảm vượt trội phải là người có xu hướng bị ám ảnh bởi suy nghĩ “mình vượt trội” một cách vô lý, suy nghĩ này không chỉ áp dụng cho chính bản thân người đó mà còn ám ảnh sang cả những người thân, đặc biệt là những người có quan hệ huyết thống trực tiếp với họ (bố mẹ, con cái, ông bà)

Cá nhân tôi tin rằng, trong cuộc sống có nhiều sự kiện bao gồm cả những thành công đột ngột, bất ngờ đi kèm với những thất bại nặng nề, kết hợp với hoàn cảnh đặc biệt về gia đình, các mối quan hệ đổ vỡ… có thể là nguyên nhân gốc rễ.

phuc-cam-vuot-troi-2

Ví dụ như một người đạt được những kết quả học tập thực sự tốt trong suốt thời thơ ấu, bỗng dưng thất bại khi bước chân vào đời, công việc bết bát, tình cảm đổ vỡ, gia đình ly tán… nhiều điều bất lực không đủ bản lĩnh để xoay chuyển cục diện…. Sau đó, để xoa dịu từ bên trong, người ta cố gắng gồng mình lên và gây dựng những hình ảnh vượt trội cho bản thân cùng những thứ xung quanh mình để che giấu đi sự yếu kém (vốn khó thừa nhận) của bản thân.

Aldred Freud nghĩ rằng phức cảm vượt trội thực ra là một cách bù đắp hoặc bù đắp quá mức cho các lĩnh vực mà chúng ta không tốt. Ông nghĩ rằng nó có thể là động lực hoặc là một cách để giúp chúng ta đối phó với thất bại.

Đôi khi Phức cảm vượt trội dễ bị nhầm lẫn với Sự tự tin. Sự khác biệt rõ nhất là đó Phức cảm vượt trội không xuất phát từ việc bản thân người đó vượt trội, trong khi đó Sự tự tin xuất phát từ việc chúng ta thành thục một kỹ năng nào đó trong cuộc sống.

Phức cảm vượt trội có thể bắt đầu từ khi nào

Trong tự nhiên hoang dã, hay bản năng động vật của chúng ta, chúng ta phải thường xuyên đương đầu với những mối nguy hiểm của tự nhiên. Một trong những cách đó là cố gắng xù lông, giương đờm, dựng lông… Tóm lại cố gắng để cho những kẻ thù thấy rằng chúng ta “lợi hại” mặc dù có thể chúng ta cũng vô hại giống như con rết cây khổng lồ châu Phi sau đây vậy, nó chỉ ăn thực vật đã phân hủy và có thể nuôi làm thú cưng….

ret-cay-khong-lo-chau-phi

Những hành vi này có thể bắt đầu từ khi còn nhỏ. Khi một đứa trẻ đang học cách đương đầu với những thách thức và thay đổi, chúng có thể học cách kìm nén cảm giác không thỏa đáng hoặc sợ hãi. Phức cảm vượt trội có thể từ đó phát triển.

Tương tự như vậy, phức cảm vượt trội cũng có thể xảy ra sau này trong cuộc sống. Là thanh thiếu niên và người trưởng thành, một người có nhiều cơ hội để trải nghiệm những điều mới cùng những người bạn mới. Nếu những tình huống này không xảy ra đúng như mong đợi, người đó có thể hình thành phức cảm vượt trội để vượt qua cảm giác bị cô lập hoặc thiếu thốn.

Những hành vi thể hiện phức cảm vượt trội có thể bắt đầu từ khi chúng ta còn rất nhỏ, khi là 1 đứa trẻ phải kìm nén cảm giác không thỏa đáng hoặc sợ hãi. Bắt đầu với biểu hiện là ba hoa, khoác lác, thường xuyên khoe khoang về những hiểu biết và mối quan hệ, kỹ năng … trong khi thực tế hoàn toàn không dành nỗ lực để rèn luyện kỹ năng đó. Hoặc cũng có thể xuất phát từ bất kỳ thời điểm nào trong cuộc sống, sau những biến cố, sự kiện trong cuộc sống xảy ra không theo mong muốn, đa phần là những thất bại không có cách sửa chữa.

Làm sao để nhận ra một người có phức cảm vượt trội

Trên thực tế, không có triệu chứng cụ thể cho người mang phức cảm vượt trội. Việc tiếp xúc một vài lần gần như không thể phát hiện ra một người có phức cảm vượt trội hay không, tương tự vậy với người mang phức cảm tự ti. Rất khó để phát hiện nếu bạn không phải một chuyên gia và không có thời gian tiếp xúc đủ lâu dài. Một số triệu chứng của phức cảm vượt trội tương tự như các tình trạng sức khỏe tâm thần khác như rối loạn nhân cách ái kỷ, tâm thần phân liệt, mất trí nhớ và rối loạn lưỡng cực.

Tuy nhiên, cá nhân tôi thấy rằng, các vấn đề về mặt sức khỏe tâm thần, xã hội như trường hợp mang phức cảm vượt trội nặng nề thường có thể phát hiện được nếu như người quan sát vượt qua được ranh giới giữa ngôn từ và kết quả, nhìn sâu vào những dấu ấn quá khứ để để lại của người khác.

Thông thường, việc xem xét một người, bao gồm cả trẻ em và người lớn có phức cảm vượt trội hay không chúng ta cần xem xét 03 vấn đề chính:

  • Thứ 1: biểu hiện của hiện tại: người đó có hay tự khen bản thân, khen người thân, khen các thứ liên quan tới người đó hay không. Ở đây chúng ta phải phân biệt giữa một người lãng mạn, lạc quan với một người mang phức cảm vượt trội. Và phải thừa nhận rằng, sự phân biệt này sẽ cần phải xem xét tới điều thứ hai.
  • Thứ 2: hãy xem các kết quả người đó đã tạo ra trong quá khứ. Khi xem xét một con người, cách đơn giản là chúng ta xem xét toàn diện IQ và EQ của người đó, các loại hình trí thông minh và kết quả của việc học tập, lao động. Để xem người đó đã tạo ra được dấu ấn gì về mặt khoa học, nghệ thuật, xã hội…. trong quá khứ và so sánh với những thứ người ấy tự nói về bản thân, về những điều xung quanh bản thân.
  • Thứ 3: đào sâu vào những vấp ngã, thất bại, tổn thương… chủ yếu là những thứ người đó phải đối đầu trong quá khứ. Cho dù có thể nó bị các câu chuyện thần thoại người ta tự tô vẽ thêm che lấp thì đâu đó vẫn sẽ có những sự thật phơi bày. Phải thừa nhận rằng điều này cũng không dễ vì thường họ sẽ không nói thật trừ khi bạn trở thành 1 chuyên gia được họ chỉ định hoặc trở thành 1 phần trong cuộc đời của họ.

tre-bi-phuc-cam-tu-ti

Phức cảm vượt trội này có cần điều trị không và làm cách nào để điều trị

Phức cảm vượt trội cho tới nay không có phương pháp điều trị vì nó không được coi là một chẩn đoán bệnh lý chính thức. Tuy nhiên, một người nào đó có kiến thức chuyên môn về sức khỏe tâm thần có thể đưa các giải pháp trị liệu tại nhà. Phương pháp này có thể giúp người mắc phức cảm vượt trội hiểu bất kỳ vấn đề tiềm ẩn nào đối với hành vi khoe khoang. Cuối cùng nó sẽ giúp người gặp vấn đề biết cách xử lý chúng theo cách có lợi hơn.

Điều quan trọng nhất trong trị liệu tại nhà là những cuộc nói chuyện cởi mở giữa người trị liệu và người gặp vấn đề. Trong bất kể trường hợp nào, người gặp phức cảm vượt trội cần phải có niềm tin tuyệt đối vào người trị liệu và sẵn sàng chia sẻ chân thành, cũng như chấp nhận những gì mình đang gặp phải có thể là một vấn đề gây ảnh hưởng không tốt tới cuộc sống cá nhân. Đây là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong trị liệu.

Sau đó, người trị liệu giúp người gặp vấn đề cảm thấy họ luôn được che chở, được tha thứ và không hề bị phân biệt đối xử cho dù họ có gặp vấn đề hay không gặp vấn đề, có giỏi hay có không thực sự giỏi.

Khuyến khích người gặp vấn đề phức cảm vượt trội nhìn nhận mọi việc một cách đơn giản hơn. Đối mặt thường xuyên với những vấn đề khó khăn mà trước đây chưa giải quyết được, lựa chọn các phương pháp giải quyết và các khả năng có thể xảy ra. Từ đó, đưa tới các vấn đề mới và cùng nhau giải quyết vấn đề.

Đối với những đứa trẻ gặp phức cảm vượt trội, điều quan trọng là chỉ ra cho chúng những điểm tốt để khuyến khích, bên cạnh đó chỉ ra tác hại của những việc như nói dối, khoe khoang, coi thường người khác… Nếu có thể, hãy cho trẻ tham gia các buổi sinh hoạt tập thể có những người giỏi hơn và các bạn kém hơn về mặt nào đó để chúng thấy việc hơn thua là bình thường và chấp nhận những điều đó như một phần của cuộc sống. Và cho dù như thế nào thì người thân cũng sẽ ở bên cạnh chúng và không coi thường chúng.

Đối với người lớn, câu chuyện sẽ đi xa hơn, vì các trường hợp này thường đã che giấu một thời gian dài. Thời gian trải qua phức cảm vượt trội càng dài thì cơ hội chữa lành cân bằng càng mong manh. Điều này còn tùy thuộc rất nhiều vào gia đình, người thân… đặc biệt nhất định phải có những người có khả năng trị liệu ở bên cạnh. Nếu không thường sẽ không thể phát hiện và không thể đưa ra các biện pháp giải quyết thích đáng. Khuyến khích họ trung thực hơn về cảm xúc của bản thân, nhìn nhận chân thành và thấu đáo hơn về năng lực của bản thân, của những người xung quanh. Tiếp đến là phân tích sâu về các mặt của 1 vấn đề, của 1 thất bại, 1 thành công trong quá khứ… và tìm kiếm các lĩnh vực mới trong việc phát triển bản thân.

Hãy buông bỏ phức cảm vượt trội, ngừng giả vờ tỏ ra mạnh mẽ và thôi mong đợi được đánh giá cao.

Một số câu điển hình của Alfred Adler về phức cảm vượt trội

Đừng cố gắng để “tỏ ra mạnh mẽ”. Hãy cố gắng để “trở nên mạnh mẽ”

Một người tự cô lập mình với mọi người nhưng lại quả quyết tự nhận rằng mình nổi bật và đặc biệt đẳng cấp. Tôi không thể chia sẻ niềm vui này với kẻ đó vì sợ hãi.

Suy cho cùng, người ta nói những điều như “Tôi quen biết người nổi tiếng”, “Đó là một chiếc xe tốt”, hay “Đó là một công việc tuyệt vời” cũng vì không tự tin. Họ đang cố giấu đi tiếng thét của nỗi sợ.

Quần áo lòe loẹt, kiểu tóc khác biệt, nhãn hiệu nổi bật, cười thật lớn, ánh mắt láo liên, hay chen ngang vào câu chuyện… mọi thứ đều do cảm giác tự ti mạnh mẽ gây ra.

“Tôi thật khốn khổ và thảm hại”, “Tôi rất xấu hổ khi phải thú nhận lỗi lầm và thất bại lớn nhất của mình” – đừng để bị lừa. Đó chỉ là cách họ khoa trương về sự khốn khổ và thất bại của bản thân.

Bằng cách hạ thấp người khác, bạn “chiến thắng” mà không cần nỗ lực gì. Vui sướng trên nỗi đau của người khác, phỉ báng, mách lẻo, hay tiết lộ bí mật của người khác… chiến lược hèn hạ này được gọi là “khuynh hướng hạ thấp giá trị”.

Một người quá tốt thì thật đáng ngờ. Một người luôn hòa nhãn, lịch sự, tốt bụng và hào phóng có thể chỉ là một kẻ đạo đức giả.

CÓ những kẻ sở khanh, trai bao khiến phụ nữ khóc. Có những người đàn ông cháy bỏng đam mê tán tỉnh những cô gái xinh đpẹ. Nhưng cũng có nững người phụ nữ thao túng những người đàn ông như vậy. Mọi người sử dụng tình dục và thậm chí hôn nhân như một công cụ để theo đuổi tính vượt trội.

Đối với trẻ nhỏ: Việc được bố mẹ khoe khoang sẽ khiến trẻ nhỏ hiển nhiên cho rằng mình sẽ thu hút được sự quan tâm và tán thưởng mà không cần cố gắng gì cả. Từ đó, cả cha mẹ và con cái đều ngập tràn trong phức cảm vượt trội. Do đó, hãy cẩn thận việc “đắc ý” quá mức trên các mạng xã hội.

 

Bài viết Phức cảm vượt trội – một dạng tự ti bị ẩn giấu đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/phuc-cam-vuot-troi-mot-dang-tu-ti-bi-an-giau-418/feed/ 0
ĐỨA CON ĐI HOANG TRỞ VỀ – 4 CUỘC ĐỐI THOẠI LAY ĐỘNG TÂM HỒN https://nghianb.org/dua-con-di-hoang-tro-ve-4-cuoc-doi-thoai-lay-dong-tam-hon-390/ https://nghianb.org/dua-con-di-hoang-tro-ve-4-cuoc-doi-thoai-lay-dong-tam-hon-390/#respond Mon, 16 Jan 2023 04:31:40 +0000 https://nghianb.org/?p=390 Ngôi nhà là nơi An yên, Tiện nghi, là Cha Mẹ. Đứa con rứt bỏ tất cả để ra đi. Ra đi đâu, để làm gì, hắn nào biết, nhưng sau khi ý thức “Ngôi nhà không là tất cả”, hắn ra đi để viên thành cuộc tự sinh tự hoá của mình trên nhữngXem thêm

Bài viết ĐỨA CON ĐI HOANG TRỞ VỀ – 4 CUỘC ĐỐI THOẠI LAY ĐỘNG TÂM HỒN đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Ngôi nhà là nơi An yên, Tiện nghi, là Cha Mẹ.
Đứa con rứt bỏ tất cả để ra đi.
Ra đi đâu, để làm gì, hắn nào biết, nhưng sau khi ý thức “Ngôi nhà không là tất cả”, hắn ra đi để viên thành cuộc tự sinh tự hoá của mình trên những nẻo đường hoàn toàn vô định. Điều đã lôi hắn đi là những đam mê, dục vọng, khoái lạc, tham lam…
Chướng ngại hằng hà sa số chực chờ hắn: châu chấu làm thức ăn, sa mạc làm giường ngủ,… sau một thời gian thử thách chìm nổi, là ốm đau, lười biếng, hèn nhát, tủi nhục…. Tất cả cuối cùng, quật ngã hắn.
dua_con_hoang_dan_kinh_thanh

Đứa con đi hoang trở về!

Trở về là thất bại của đứa con đi hoang, nhưng một thất bại động lòng người.
Trên con đường tự giác, thất bại là chuyện thường tình và được chia đều cho các cá nhân:
Một lúc nào đó, đối với tôi, thất bại có thể là một phần hình hài bị huỷ hoại; đối với anh, thất bại có thể là một phần hình hài tâm hồn rách nát. Đối với hắn, thất bại là là một cuộc ra đi bất thành.
Một cuộc ra đi đầy kiêu căng, niềm tin của thanh xuân, phút chốc bán đồ nhi phế, phải tiếp nối bằng cuộc trở về tơi tả.
Có ra đi để trở về, hắn mới biết mình không phải sinh ra cho những cuộc ra đi. Nhưng nỗi niềm hi vọng vốn vượt quá tri thức và khả năng con người, chẳng suy chuyển trong lòng hắn. Hắn giờ đây lại hi vọng cho người khác:
“Em hãy đi…. em mang theo tất cả hi vọng của anh. Hãy mạnh mẽ: quên những người ở lại, quên anh.
Mong sao em chớ quay về…”
(- ref Bửu Ý , Đưá con đi hoang trở về, Andre Gide-)
dua_con_di_hoang_tro_ve
Lấy cảm hứng từ dụ ngôn “Đứa con hoang đàng” trong Kinh Tân Ước, chỉ trong 4 cuộc đối thoại và vỏn vẹn 60 trang sách, Andre Gide lay động tận sâu trong mỗi người đọc các tình huống triết lý mà có lẽ ai cũng đã từng nhập vai!
Hà Nội, 12/01/2023

Bài viết ĐỨA CON ĐI HOANG TRỞ VỀ – 4 CUỘC ĐỐI THOẠI LAY ĐỘNG TÂM HỒN đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/dua-con-di-hoang-tro-ve-4-cuoc-doi-thoai-lay-dong-tam-hon-390/feed/ 0