Tâm linh & Phật giáo Archives - Nghĩa NB Blog cá nhân của Nghĩa NB Thu, 24 Sep 2026 06:16:08 +0000 vi hourly 1 Thiền Vipassana – quán chiếu thân tâm trong từng khoảnh khắc https://nghianb.org/thien-vipassana-quan-chieu-than-tam-trong-tung-khoanh-khac-930/ https://nghianb.org/thien-vipassana-quan-chieu-than-tam-trong-tung-khoanh-khac-930/#respond Wed, 23 Sep 2026 01:31:00 +0000 https://nghianb.org/?p=930 Vipassana – thường được dịch là “Thiền Minh sát” hay “Thiền Tuệ” – là một trong những phương pháp thiền cổ xưa nhất trong Phật giáo, được cho là chính pháp môn mà Đức Phật đã thực hành để đạt giác ngộ. Khác với nhiều hình thức thiền định (samatha) chủ yếu nhằm đạt đượcXem thêm

Bài viết Thiền Vipassana – quán chiếu thân tâm trong từng khoảnh khắc đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Thiền Vipassana - quán chiếu thân tâm trong từng khoảnh khắc

Vipassana – thường được dịch là “Thiền Minh sát” hay “Thiền Tuệ” – là một trong những phương pháp thiền cổ xưa nhất trong Phật giáo, được cho là chính pháp môn mà Đức Phật đã thực hành để đạt giác ngộ. Khác với nhiều hình thức thiền định (samatha) chủ yếu nhằm đạt được sự tĩnh lặng, tập trung sâu, Vipassana hướng thẳng tới mục tiêu phát triển tuệ giác – nhìn thấy rõ bản chất thực sự của thân và tâm.

“Vipassana” nghĩa là gì?

Trong tiếng Pali, “Vipassana” ghép từ “vi” (đặc biệt, theo nhiều cách) và “passana” (nhìn thấy) – có thể hiểu là “nhìn thấy sự vật đúng như bản chất thực của chúng”, chứ không phải như chúng ta thường tưởng tượng, gán ghép, phóng đại qua lăng kính của thành kiến và cảm xúc.

Thực hành: quan sát, không phản ứng

Trong thực hành Vipassana, hành giả được hướng dẫn quan sát một cách khách quan, liên tục các cảm giác trên thân (thọ), các trạng thái tâm (tâm), các hiện tượng đang sinh khởi (pháp) – mà không phán xét, không cố gắng thay đổi, không bám víu vào cảm giác dễ chịu hay xua đuổi cảm giác khó chịu. Ví dụ, khi có một cơn đau xuất hiện trong lúc ngồi thiền, thay vì phản ứng ngay bằng cách cựa quậy hay tự trách “sao mình yếu đuối vậy”, hành giả được hướng dẫn chỉ đơn thuần quan sát: “đây là cảm giác đau, nó đang sinh khởi, nó đang biến đổi, rồi nó sẽ diệt đi”.

Thấy rõ vô thường qua trải nghiệm trực tiếp

Mục đích sâu xa của việc quan sát liên tục này là để hành giả tự mình trải nghiệm, chứ không chỉ tin theo lý thuyết, về ba đặc tính của mọi hiện tượng: vô thường (mọi thứ luôn biến đổi, không có gì tồn tại cố định), khổ (bản chất bất toại nguyện của các pháp hữu vi), và vô ngã (không có một “cái tôi” cố định, bất biến đứng đằng sau những trải nghiệm). Khi tuệ giác về ba đặc tính này đủ sâu sắc, sự bám chấp – vốn là gốc rễ của khổ đau theo Tứ Diệu Đế – dần được tháo gỡ một cách tự nhiên.

Ứng dụng ngoài đời sống

Ngay cả với những người chưa có điều kiện tham dự một khóa thiền Vipassana chính thức (thường kéo dài 10 ngày trở lên, theo truyền thống được phổ biến rộng rãi bởi thiền sư S.N. Goenka), tinh thần cốt lõi của phương pháp này – quan sát khách quan, không phản ứng vội vàng với cảm xúc và cảm giác – vẫn có thể được luyện tập từng chút một trong đời sống hàng ngày, giúp ta phản ứng khôn ngoan hơn thay vì bị cuốn theo những phản xạ cảm xúc tức thời.

Bài viết Thiền Vipassana – quán chiếu thân tâm trong từng khoảnh khắc đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/thien-vipassana-quan-chieu-than-tam-trong-tung-khoanh-khac-930/feed/ 0
Bát Chánh Đạo – con đường thực hành đưa đến giải thoát https://nghianb.org/bat-chanh-dao-con-duong-thuc-hanh-dua-den-giai-thoat-928/ https://nghianb.org/bat-chanh-dao-con-duong-thuc-hanh-dua-den-giai-thoat-928/#respond Wed, 23 Sep 2026 01:29:13 +0000 https://nghianb.org/?p=928 Nếu Tứ Diệu Đế là bộ khung tổng quát của giáo lý Phật giáo, thì Bát Chánh Đạo (Con đường Tám nhánh chân chính) chính là phần “thực hành” cụ thể – Đạo Đế, chân lý thứ tư – chỉ ra tám yếu tố cần tu tập để đưa đến sự chấm dứt khổ đau.Xem thêm

Bài viết Bát Chánh Đạo – con đường thực hành đưa đến giải thoát đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Bát Chánh Đạo - con đường thực hành đưa đến giải thoát

Nếu Tứ Diệu Đế là bộ khung tổng quát của giáo lý Phật giáo, thì Bát Chánh Đạo (Con đường Tám nhánh chân chính) chính là phần “thực hành” cụ thể – Đạo Đế, chân lý thứ tư – chỉ ra tám yếu tố cần tu tập để đưa đến sự chấm dứt khổ đau. Tám yếu tố này thường được nhóm thành ba nhóm lớn: Tuệ, Giới, Định.

Nhóm Tuệ (trí tuệ)

Chánh kiến – thấy đúng bản chất của vạn pháp, hiểu về Tứ Diệu Đế, về nhân quả, về vô thường, vô ngã. Chánh tư duy – suy nghĩ đúng đắn, hướng về sự từ bỏ tham ái, hướng về lòng từ bi, không sân hận, không hại người, hại vật. Hai yếu tố này là nền tảng nhận thức, định hướng cho toàn bộ quá trình tu tập.

Nhóm Giới (đạo đức)

Chánh ngữ – lời nói chân thật, không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời thô ác, không nói lời phù phiếm. Chánh nghiệp – hành động đúng đắn, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm. Chánh mạng – sinh kế chân chính, không mưu sinh bằng những nghề gây hại cho chúng sinh khác (như buôn bán vũ khí, chất độc, buôn người…). Ba yếu tố này xây dựng nền tảng đạo đức, giúp tâm không bị dày vò bởi hối hận, tội lỗi – điều kiện cần thiết để tâm có thể an định.

Nhóm Định (thiền định)

Chánh tinh tấn – nỗ lực đúng đắn, ngăn ngừa những điều bất thiện chưa sinh, đoạn trừ điều bất thiện đã sinh, phát triển điều thiện chưa sinh, duy trì điều thiện đã sinh. Chánh niệm – sự tỉnh giác, quan sát rõ ràng thân, thọ, tâm, pháp trong từng khoảnh khắc hiện tại, không để tâm trôi dạt theo vọng tưởng. Chánh định – sự tập trung tâm ý vào một đối tượng, đạt đến các tầng thiền định sâu, làm nền tảng cho tuệ giác phát sinh.

Một con đường, không phải tám bước tuần tự

Điều quan trọng cần lưu ý là Bát Chánh Đạo không phải là tám bước phải hoàn thành lần lượt từ 1 đến 8, mà là tám yếu tố cần được tu tập song song, hỗ trợ lẫn nhau – giống như tám sợi dây bện lại thành một con đường vững chắc. Trí tuệ giúp định hướng đạo đức và thiền định đúng đắn; đạo đức tạo nền tảng an ổn cho thiền định; thiền định làm sâu sắc thêm trí tuệ – một vòng tròn hỗ trợ lẫn nhau, đưa hành giả từng bước tiến gần hơn tới sự giải thoát khỏi khổ đau.

Bài viết Bát Chánh Đạo – con đường thực hành đưa đến giải thoát đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/bat-chanh-dao-con-duong-thuc-hanh-dua-den-giai-thoat-928/feed/ 0
Tứ Diệu Đế – nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Phật https://nghianb.org/tu-dieu-de-nen-tang-giao-ly-cot-loi-cua-dao-phat-926/ https://nghianb.org/tu-dieu-de-nen-tang-giao-ly-cot-loi-cua-dao-phat-926/#respond Wed, 23 Sep 2026 01:27:05 +0000 https://nghianb.org/?p=926 Tứ Diệu Đế (Bốn Chân lý cao quý) là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi giác ngộ, tại vườn Lộc Uyển (Sarnath), cho năm anh em Kiều Trần Như. Đây được xem là nền tảng cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo, dù được diễnXem thêm

Bài viết Tứ Diệu Đế – nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Phật đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Tứ Diệu Đế - nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Phật

Tứ Diệu Đế (Bốn Chân lý cao quý) là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi giác ngộ, tại vườn Lộc Uyển (Sarnath), cho năm anh em Kiều Trần Như. Đây được xem là nền tảng cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo, dù được diễn giải và mở rộng theo nhiều cách khác nhau qua các tông phái.

Khổ Đế – sự thật về khổ đau

Chân lý đầu tiên khẳng định: đời sống, xét trên bản chất, gắn liền với khổ (dukkha) – không chỉ là đau đớn thể xác hay tinh thần rõ rệt, mà còn bao gồm cả sự bất toại nguyện vi tế, sự vô thường khiến ngay cả những niềm vui cũng không thể kéo dài mãi mãi. Sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa người mình yêu thương, gần gũi điều mình không ưa thích, mong cầu không được – tất cả đều là biểu hiện của Khổ.

Tập Đế – nguyên nhân của khổ

Chân lý thứ hai chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của khổ đau: đó là ái (tanha) – lòng tham muốn, khát khao bám chấp, dù là bám chấp vào những điều dễ chịu (dục ái), bám chấp vào sự tồn tại, danh tính (hữu ái), hay thậm chí bám chấp vào sự không tồn tại, muốn hủy diệt (phi hữu ái). Chính sự bám chấp này, kết hợp với vô minh – không thấy rõ bản chất vô thường, vô ngã của vạn pháp – tạo thành vòng luân hồi khổ đau tiếp diễn.

Diệt Đế – sự chấm dứt khổ đau là có thể

Chân lý thứ ba mang tính khích lệ rất lớn: khổ đau không phải là một số phận vĩnh viễn không thể thay đổi. Khi ái và vô minh được đoạn trừ hoàn toàn, trạng thái Niết Bàn (Nirvana) – sự tịch diệt hoàn toàn của khổ đau và phiền não – có thể đạt được, ngay trong đời sống này, không cần đợi đến sau khi chết.

Đạo Đế – con đường đưa đến sự chấm dứt khổ

Chân lý thứ tư chỉ ra con đường cụ thể để đạt đến sự chấm dứt khổ đau: Bát Chánh Đạo – tám yếu tố thực hành gồm Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Đây chính là phần “thực hành” cụ thể, biến Tứ Diệu Đế từ một hệ thống triết lý trở thành một con đường tu tập có thể áp dụng vào đời sống hàng ngày.

Điều đáng chú ý trong cách trình bày Tứ Diệu Đế là cấu trúc gần giống với phương pháp chẩn đoán và điều trị của y học: nhận diện bệnh (Khổ), tìm nguyên nhân (Tập), xác định khả năng chữa khỏi (Diệt), và đưa ra phác đồ điều trị cụ thể (Đạo) – một cách tiếp cận thực tế, không giáo điều, mời gọi người thực hành tự mình trải nghiệm và kiểm chứng.

Bài viết Tứ Diệu Đế – nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Phật đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/tu-dieu-de-nen-tang-giao-ly-cot-loi-cua-dao-phat-926/feed/ 0
Tại sao chúng ta sống – một thoáng suy nghĩ cá nhân https://nghianb.org/tai-sao-chung-ta-song-mot-thoang-suy-nghi-ca-nhan-412/ https://nghianb.org/tai-sao-chung-ta-song-mot-thoang-suy-nghi-ca-nhan-412/#respond Tue, 22 Sep 2026 06:01:25 +0000 https://nghianb.org/?p=412 Sẽ là quá sức với một người nếu để viết ra một lời giải thích gọn gàng đủ sức thuyết phục về câu hỏi lớn của cuộc đời “ý nghĩa của sinh mệnh” hay “tại sao chúng ta sống?”. Bởi vì, chỉ riêng việc trả lời được câu hỏi lớn đó của đời người, chúngXem thêm

Bài viết Tại sao chúng ta sống – một thoáng suy nghĩ cá nhân đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Sẽ là quá sức với một người nếu để viết ra một lời giải thích gọn gàng đủ sức thuyết phục về câu hỏi lớn của cuộc đời “ý nghĩa của sinh mệnh” hay “tại sao chúng ta sống?”. Bởi vì, chỉ riêng việc trả lời được câu hỏi lớn đó của đời người, chúng ta đã thực sự đặt 1 chân trên con đường giải thoát và trải qua 1 bước tiến hóa mạnh mẽ về tâm linh. Điều này thì không phải ai cũng may mắn có được trong đời! Vậy nên, tôi chỉ dám chia sẻ đôi dòng suy nghĩ cá nhân, như tiêu đề của bài viết thôi, dựa trên những hiểu biết vụn vặt và những trải nghiệm sống vội vã trong những năm qua của bản thân.
Từ lúc 3-4 tuổi đi lên chùa ngắm tượng, ăn lộc, xem tranh, tới khi 6-7 tuổi đọc được giáo lý Phật. Lên 10 tuổi tự học thiền như trong sách dạy, 17 tuổi tự tập khí công cơ bản…. 18 tuổi học dược. 32 tuổi khởi nghiệp công ty dược. Dự kiến 37 tuổi tiếp tục start up mới lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ…. Tôi luôn đau đáu một câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống con người, mối liên hệ giữa bản thân với sinh mệnh khác! Và tôi nhận ra, những nhân duyên trong cuộc đời mình, dù là vui hay buồn, thuận hay nghịch, đều là những mảnh ghép cần thiết để tôi trở thành phiên bản của chính mình ngày hôm nay. Và có lẽ, câu trả lời trọn vẹn nhất cho câu hỏi “tại sao chúng ta sống” không nằm ở một đáp án cố định nào, mà nằm ở chính hành trình đi tìm câu trả lời ấy – với tất cả sự trân trọng, biết ơn, và tôi vẫn còn muốn tiếp tục hành trình này.
cam-on-cuoc-song
Thank you, God!
Hà Đông, ngày 11 tháng 3 năm 2023

Bài viết Tại sao chúng ta sống – một thoáng suy nghĩ cá nhân đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/tai-sao-chung-ta-song-mot-thoang-suy-nghi-ca-nhan-412/feed/ 0
1 ngày trên Thiền viện Trúc Lâm Tây Trúc https://nghianb.org/1-ngay-tren-thien-vien-truc-lam-tay-truc-182/ https://nghianb.org/1-ngay-tren-thien-vien-truc-lam-tay-truc-182/#respond Tue, 22 Sep 2026 05:58:37 +0000 https://nghianb.org/?p=182 Năm nay, 2021, tôi dành ngày đặc biệt nhất trong năm của mình là ngày sinh nhật 24/6, tại một thiền viện bên chân núi Tam Đảo – Thiền viện Trúc Lâm Tây Trúc. Và tôi đã có những trải nghiệm tâm linh, cuộc sống tuyệt vời tại nơi đây. Buổi sáng hôm ấy, tôiXem thêm

Bài viết 1 ngày trên Thiền viện Trúc Lâm Tây Trúc đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Năm nay, 2021, tôi dành ngày đặc biệt nhất trong năm của mình là ngày sinh nhật 24/6, tại một thiền viện bên chân núi Tam Đảo – Thiền viện Trúc Lâm Tây Trúc. Và tôi đã có những trải nghiệm tâm linh, cuộc sống tuyệt vời tại nơi đây.

Buổi sáng hôm ấy, tôi thức dậy cùng tiếng chuông công phu sớm của thiền viện, khi sương còn giăng mờ trên những sườn núi Tam Đảo. Ngồi thiền trong chánh điện, giữa không gian tĩnh lặng chỉ có tiếng gió và hơi thở của chính mình, tôi cảm nhận rõ một điều: phần lớn thời gian trong cuộc sống thường nhật, chúng ta hiếm khi thực sự “có mặt” với hiện tại – tâm trí cứ mải miết chạy theo những dự tính, lo toan. Chỉ khi buông hết xuống, sự tĩnh lặng mới thật sự hiện ra, không phải như một trạng thái đi tìm, mà như một điều vốn luôn ở đó, chỉ chờ mình dừng lại để nhận ra.

Buổi trưa, tôi dùng cơm chay cùng đại chúng trong chánh niệm – mỗi miếng ăn được nhai chậm rãi, ý thức rõ về vị giác, về công sức của người trồng trọt, nấu nướng. Đó là một trải nghiệm khác hẳn với những bữa ăn vội vã thường ngày nơi phố thị. Tôi nhận ra rằng ăn trong chánh niệm không chỉ là một hình thức tu tập, mà còn là cách để nuôi dưỡng lòng biết ơn với những gì mình đang có, dù là nhỏ bé nhất.

Chiều đến, tôi dạo bước quanh khuôn viên thiền viện, ngắm nhìn núi rừng Tam Đảo trải dài trước mắt. Sinh nhật năm ấy, thay vì những lời chúc tụng ồn ào, tôi chọn cho mình một khoảng lặng để nhìn lại một năm đã qua, và thầm biết ơn vì mình vẫn còn đủ duyên lành để tìm về những nơi chốn bình yên như thế này. Có lẽ, món quà ý nghĩa nhất mà một thiền viện có thể trao tặng không phải là một trải nghiệm ngoạn mục, mà là cơ hội để ta chậm lại, nhìn sâu vào bên trong, và trân trọng hơn từng khoảnh khắc của đời sống.

Bài viết 1 ngày trên Thiền viện Trúc Lâm Tây Trúc đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/1-ngay-tren-thien-vien-truc-lam-tay-truc-182/feed/ 0
Phật giáo Mật tông tại Việt Nam – Sơ lược một vài điểm chính https://nghianb.org/phat-giao-mat-tong-tai-viet-nam-so-luoc-mot-vai-diem-chinh-146/ https://nghianb.org/phat-giao-mat-tong-tai-viet-nam-so-luoc-mot-vai-diem-chinh-146/#respond Tue, 22 Sep 2026 05:57:04 +0000 https://nghianb.org/?p=146 Trong ba tông phái lớn của Phật giáo Đại thừa lưu truyền tại Việt Nam – Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật Tông – thì Mật Tông có lẽ là tông phái được biết đến ít nhất, dù dấu ấn của nó vẫn hiện diện khá rõ trong đời sống tâm linh của ngườiXem thêm

Bài viết Phật giáo Mật tông tại Việt Nam – Sơ lược một vài điểm chính đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Phật giáo Mật tông tại Việt Nam - Sơ lược một vài điểm chính

Trong ba tông phái lớn của Phật giáo Đại thừa lưu truyền tại Việt Nam – Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật Tông – thì Mật Tông có lẽ là tông phái được biết đến ít nhất, dù dấu ấn của nó vẫn hiện diện khá rõ trong đời sống tâm linh của người Việt, từ những khóa lễ trì chú, cầu an, cho tới các nghi thức mang màu sắc bí truyền tại một số chùa, tự viện.

Mật Tông là gì?

Mật Tông (còn gọi là Kim Cang thừa – Vajrayana, hay Chân ngôn tông) là một nhánh của Phật giáo Đại thừa, phát triển mạnh tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ 6-7 sau Công nguyên, rồi từ đó truyền sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản và các vùng lân cận. Khác với các pháp môn thông thường chủ trương tu tập tiệm tiến qua nhiều kiếp, Mật Tông tin rằng có thể đạt giác ngộ ngay trong đời này (tức thân thành Phật) thông qua các phương tiện thiện xảo đặc thù: trì chú (mantra), kết ấn (mudra), quán tưởng bổn tôn (yidam) và các nghi quỹ (sadhana) được truyền thụ trực tiếp từ thầy sang trò.

Ba yếu tố “thân – khẩu – ý” được xem là trung tâm của thực hành Mật thừa: thân kết ấn, khẩu trì chú, ý quán tưởng – cả ba tương ưng đồng thời nhằm chuyển hóa phiền não thành trí tuệ, thay vì đoạn diệt phiền não một cách đơn thuần như trong nhiều pháp môn Hiển giáo.

Mật Tông du nhập vào Việt Nam

Mật Tông được cho là đã có mặt tại Việt Nam từ khá sớm, có ghi nhận liên hệ với các thiền sư thời Lý – Trần, khi yếu tố trì chú, đà-ra-ni (dharani) hòa quyện cùng Thiền tông bản địa tạo nên một sắc thái “Thiền – Mật song tu” đặc trưng của Phật giáo Việt Nam thời kỳ này. Tuy nhiên, khác với Tây Tạng – nơi Mật Tông phát triển thành một hệ thống độc lập, hoàn chỉnh với dòng truyền thừa (lineage) rõ ràng – tại Việt Nam, các yếu tố Mật giáo phần lớn được dung hợp vào Thiền tông và Tịnh Độ tông, ít khi tồn tại như một tông phái riêng biệt, độc lập.

Vào thế kỷ 20, cùng với làn sóng giao lưu Phật giáo quốc tế, một số dòng truyền thừa Mật Tông Tây Tạng (Kim Cang thừa Tây Tạng) đã được giới thiệu và thực hành tại Việt Nam, thường thông qua các đạo tràng tu học theo truyền thống Nyingma, Kagyu hay Gelug, dưới sự hướng dẫn của các vị Lạt-ma. Song song đó, trong Phật giáo Việt Nam truyền thống, dấu ấn Mật giáo vẫn tiếp tục hiện diện qua các nghi thức trì tụng thần chú quen thuộc như chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm, chú Vãng Sanh… vốn được tụng đọc phổ biến tại hầu hết các chùa trên cả nước, dù người trì tụng không nhất thiết tự nhận mình đang tu theo Mật Tông.

Một góc nhìn thực hành

Với người thực hành, có lẽ điều quan trọng không phải là dán nhãn mình đang tu theo tông phái nào, mà là hiểu đúng bản chất của pháp môn mình đang hành trì. Trì chú, nếu chỉ dừng lại ở việc lặp lại âm thanh mà thiếu chánh niệm, chánh tư duy đi kèm, rất dễ rơi vào hình thức, thậm chí mê tín. Ngược lại, khi tâm an trú, quán chiếu ý nghĩa của từng câu chú, từng nghi thức, thì ngay cả một thời khóa tụng niệm đơn giản cũng có thể trở thành phương tiện thiện xảo để chuyển hóa nội tâm.

Nhìn từ góc độ cá nhân, tôi cho rằng dù là Thiền, Tịnh hay Mật, cốt lõi vẫn quay về ba chữ Giới – Định – Tuệ. Mật Tông với hệ thống nghi quỹ phong phú, giàu tính biểu tượng, có thể là một cánh cửa phù hợp với những ai thiên về trực giác và hình ảnh quán tưởng, nhưng nó không tách rời khỏi nền tảng đạo đức và trí tuệ chung của Phật giáo. Đây cũng là lý do vì sao việc tu học Mật Tông một cách bài bản luôn đòi hỏi có minh sư truyền thụ, tránh việc tự ý luyện tập theo sách vở mà thiếu sự hướng dẫn, dễ dẫn đến ngộ nhận hoặc lệch lạc.

Nguồn tham khảo

  • Wikipedia tiếng Việt, mục từ “Mật tông”
  • Tạp chí Nghiên cứu Phật học, các bài viết về lịch sử Mật giáo tại Việt Nam
  • Báo Giác Ngộ (giacngo.vn), chuyên mục Phật học – Mật tông

Bài viết Phật giáo Mật tông tại Việt Nam – Sơ lược một vài điểm chính đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/phat-giao-mat-tong-tai-viet-nam-so-luoc-mot-vai-diem-chinh-146/feed/ 0
Đức Phật nói về thời kỳ Mạt pháp trong Kinh pháp Diệt tận https://nghianb.org/duc-phat-noi-ve-thoi-ky-mat-phap-trong-kinh-phap-diet-tan-257/ https://nghianb.org/duc-phat-noi-ve-thoi-ky-mat-phap-trong-kinh-phap-diet-tan-257/#respond Tue, 22 Sep 2026 05:55:08 +0000 https://nghianb.org/?p=257 Thời kỳ mạt pháp là một thời kỳ mà ở đó ánh sáng của Phật pháp trở nên yếu ớt trước lòng tham, sự thù hận và mê muội của loài người. Trái đất cũng từ đó liên tục trải qua các kiếp nạn mới. Những kẻ được gọi là Tu sĩ thực chất lạiXem thêm

Bài viết Đức Phật nói về thời kỳ Mạt pháp trong Kinh pháp Diệt tận đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Thời kỳ mạt pháp là một thời kỳ mà ở đó ánh sáng của Phật pháp trở nên yếu ớt trước lòng tham, sự thù hận và mê muội của loài người. Trái đất cũng từ đó liên tục trải qua các kiếp nạn mới. Những kẻ được gọi là Tu sĩ thực chất lại phỉ bán kinh pháp, những người nghe pháp chủ yếu thực hành để cầu xin phúc phần cho bản thân…
Kệ khai kinh
Phật pháp cao siêu rất thẳm sâu,
Trăm ngàn muôn kiếp khó tầm cầu.
Con nay nghe thấy chuyên trì tụng,
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.

Như thật tôi nghe, một thời Đức Phật ở thành Câu-thi-na. Như Lai sẽ nhập niết-bàn trong vòng ba tháng nữa, nên các tỷ-khưu, tỷ-khưu ni cũng như vô số các loài hữu tình đến để cung kính đảnh lễ. Thế tôn tĩnh lặng , ngài không nói một lời và hào quang không xuất hiện. Ngài A-nan cung kính đảnh lễ và hỏi:

“Bạch Thế tôn, từ trước đến nay khi nào Thế tôn thuyết pháp, ánh sáng oai nghi của Thế tôn đều tự nhiên xuất hiện, nhưng hôm nay trong đại chúng, không thấy ánh hào quang ấy từ Thế tôn tỏa ra nữa, chắc hẳn có nhân duyên gì, chúng con mong muốn nghe Đức Thế tôn giảng giải.”

Đức Phật vẫn im lặng không trả lời, cho đến khi A-nan cầu thỉnh đến ba lần, lúc đó Đức Phật mới bảo A-nan:

“Sau khi Như Lai nhập niết-bàn, khi giáo pháp bắt đầu suy yếu, trong đời ngũ trược ác thế, ma đạo sẽ rất thịnh hành, ma quỷ biến thành sa-môn, xuyên tạc phá hoại giáo pháp của ta. Chúng mặc y phục thế tục , ưa thích y phục đẹp đẽ, cà sa sặc sỡ; uống rượu, ăn thịt; giết hại sinh vật tham đắm mùi vị; không có lòng từ, thường mang sân hận, đố kỵ lẫn nhau.

“Vào lúc ấy, sẽ có các vị Bồ-tát, Bích-chi Phật, A-la-hán hết sức tôn kính, siêng năng tu đức, được mọi người kính trọng tiếp đãi., họ đều giáo hóa bình đẳng. Những người tu đạo này thường cứu giúp kẻ nghèo, quan tâm người già, cứu giúp người gặp cảnh nghèo cùng khốn ách. khuyến khích mọi người thờ phượng, hộ trì kinh tượng. Họ thường làm công đức, hết lòng từ bi làm lành, không hại kẻ khác. hy sinh giúp đỡ không tự lợi mình , thường nhẫn nhục nhân hòa.

“Nếu có những người như vậy, thì các tỷ-khưu tà ma đều ganh ghét họ, ma quỷ sẽ nổi ác phỉ báng, xua đuổi trục xuất các vị tỷ-khưu chân chính ra khỏi tăng viện. Sau đó, các tỷ-khưu ác ma này không tu đạo đức, chùa chiền tu viện sẽ bị hoang vắng, cỏ dại mọc đầy. Do không chăm sóc bảo trì, chùa chiền trở thành hoang phế và bị lãng quên, các tỷ-khưu ác ma sẽ chỉ tham lam tài vật tích chứa vô số của cải không chịu buông bỏ, không tu tạo phước đức.

“Vào lúc đó các ác ma tỷ-khưu sẽ buôn bán nô tỳ để cày ruộng, chặt cây đốt phá núi rừng, sát hại chúng sanh không chút từ tâm. Những nam nô trở thành các tỷ-khưu và nữ tỳ thành tỷ-khưu ni không có đạo đức, dâm loạn dơ bẩn, không cách biệt nam nữ. Chính những người này làm đạo suy yếu phai dần. Những người chạy trốn luật pháp sẽ tìm đến quy y trong đạo của ta, xin làm sa-môn nhưng không tu giới luật. Giữa tháng cuối tháng tuy có tụng giới, nhưng chỉ là trên danh nghĩa. Do lười biếng và phóng dật, không còn ai muốn nghe nữa. Những ác sa-môn này sẽ không muốn tụng toàn văn bản kinh, tóm tắt đoạn đầu và cuối bản kinh theo ý của họ . Chẳng bao lâu, việc tụng tập kinh điển cũng sẽ chấm dứt. Cho dù vẫn còn có người tụng kinh, nhưng họ lại không hiểu câu văn. vẫn khăng khăng cho họ là đúng, tự phụ, kiêu căng mong cầu danh tiế ng , ra vẻ tao nhã để mong cúng dường.

Khi mạng căn của các ma ác tỷ-khưu này chấm dứt, thần thức của họ liền đọa vào địa ngục A-tỳ. Đã phạm phải 5 tội trọng, nên họ phải tái sinh liên tục chịu khổ trong loài quỷ đói và súc sinh. Họ sẽ nếm những nỗi thống khổ trong vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng. Khi tội hết, họ sẽ tái sinh ở những vùng biên địa, nơi không có Tam bảo lưu hành.

“Khi chánh pháp sắp biến mất, phụ nữ sẽ trở nên tinh tấn và thường làm việc công đức. Đàn ông sẽ trở nên lười biếng và sẽ không còn ai giảng pháp . Những vị sa-môn chân chính sẽ bị xem như đất phân và không ai tin ở các vị ấy nữa. Khi chánh pháp sắp suy tàn, chư Thiên sẽ bắt đầu khóc lóc, sông sẽ khô cạn và năm thứ cốc loại không chín (mất mùa, đói kém). Bệnh dịch thường xuyên xảy ra, cướp đi vô số mạng người. Dân chúng phải làm việc cực khổ, quan chức địa phương mưu tính lợi riêng, không thuận theo đạo lý, đều ưa thích rối loạn. Người ác gia tăng nhiều như cát dưới biển, người thiện rất ít, hầu như chỉ có được một hoặc hai người.

“Khi kiếp sắp hết, vòng quay của mặt trời và mặt trăng trở nên ngắn hơn và mạng sống của con người giảm lại. Bốn mươi tuổi đầu đã bạc . Đàn ông dâm dục, cạn kiệt tinh dịch nên sẽ chết trẻ, thường là trước 60 tuổi. Khi mạng sống của nam giới giảm, thì mạng sống cuả nữ giới tăng đến 70, 80, 90 hoặc đến 100 tuổi.

«Những dòng sông lớn sẽ dâng cao bất thường không đúng với chu kỳ tự nhiên, nhưng con nguời không để ý hoặc không quan tâm. Khí hậu khắc nghiệt được xem là điều bình thường. Người các chủng tộc lai tạp lẫn nhau không phân quý tiện, chìm đắm, trôi nổi như cá rùa kiếm ăn .

«Lúc đó các vị Bồ-tát, Bích-chi Phật, A-la-hán bị chúng ma xua đuổi trục xuất không còn cùng dự trong chúng hội . Giáo lý Tam thừa vẫn được lưu hành ở vùng hẻo lánh, những người tu tập vẫn tìm thấy sự an lạc và thọ mạng kéo dài. Chư thiên sẽ bảo vệ và mặt trăng sẽ chiếu sáng họ, giáo pháp Tam thừa sẽ có dịp hòa nhập và chính đạo sẽ hưng thịnh. Tuy nhiên, trong năm mươi hai năm, kinh Thủ-lăng-nghiêm và Kinh Bát-chu Tam-muội sẽ bị sửa đổi trước tiên rồi biến mất. Mười hai bộ kinh sau đó sẽ dần dần bị tiêu trầm cho đến khi hoại diệt hoàn toàn và không bao giờ xuất hiện lại nữa. Văn tự kinh điển sau đó hoàn toàn không được biết đến, giới y của sa-môn sẽ tự bị biến thành màu trắng.

«Khi giáo pháp của ta sắp biến mất, cũng giống như ngọn đèn dầu tỏa sáng lên trong chốc lát trước khi tàn lụi, chánh pháp cũng bừng sáng rồi suy tàn. Từ đó về sau khó nói chắc được điều gì sẽ xảy ra.

«Thời kỳ này sẽ kéo dài suốt mười triệu năm. Khi Đức Di-lặc sắp thị hiện ở thế gian để thành vị Phật tiếp theo, các cõi nước đều được hoàn toàn an vui. Khí độc sẽ bị tiêu tán, mưa nhiều và đều đặn, n ăm thứ cốc loại tươi tốt , cây cối sum suê cao lớn, và loài người sẽ cao đến tám trượng (hơn 24 mét) tuổi thọ trung bình của con người sẽ đến 84.000 năm, chúng sanh được độ khó có thể tính đếm được.»

Ngài A-nan thưa thỉnh Đức Phật :

«Bạch Thế tôn, chúng con nên gọi Kinh này là gì, và làm thế nào để phụng trì kinh ấy?»

Đức Phật bảo :

«Này A-nan, kinh này gọi là Pháp Diệt Tận. Hãy dạy cho mọi người truyền bá rộng rãi kinh này. Những ai truyền bá kinh nầy, công đức của những người ấy không thể nghĩ bàn, không thể nào tính đếm được.»

Khi bốn chúng đệ tử nghe nói kinh này rồi, họ đều rất đau lòng và buồn tủi, mỗi người đều phát tâm tu đạo để đạt đến quả vị Thánh tối thượng, họ cung kính đảnh lễ Đức Phật rồi lui ra.

Bài viết Đức Phật nói về thời kỳ Mạt pháp trong Kinh pháp Diệt tận đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/duc-phat-noi-ve-thoi-ky-mat-phap-trong-kinh-phap-diet-tan-257/feed/ 0
Trung quán luận – Phần 1 Quán Nhân Duyên https://nghianb.org/trung-quan-luan-phan-1-quan-nhan-duyen-609/ https://nghianb.org/trung-quan-luan-phan-1-quan-nhan-duyen-609/#respond Tue, 22 Sep 2026 05:54:37 +0000 https://nghianb.org/?p=609 Học thuyết Nhân Duyên là một tiền để quan trọng bậc nhất trong giáo lý nhà Phật từ đó giúp chúng ta hiểu được tính không, hiểu được sự biến hóa khôn lường của vũ trụ bên trong và bên ngoài. Khai luận Bất kể cái gì do duyên sinh thì Chẳng sinh cũng chẳngXem thêm

Bài viết Trung quán luận – Phần 1 Quán Nhân Duyên đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Học thuyết Nhân Duyên là một tiền để quan trọng bậc nhất trong giáo lý nhà Phật từ đó giúp chúng ta hiểu được tính không, hiểu được sự biến hóa khôn lường của vũ trụ bên trong và bên ngoài.

Khai luận

Bất kể cái gì do duyên sinh thì

Chẳng sinh cũng chẳng diệt

Chẳng thường cũng chẳng đoạn,

Chẳng một cũng chẳng khác

Chẳng đến cũng chẳng đi

Nói lên được pháp nhân duyên ấy

Khéo diệt trừ các thứ hý luận

Tôi cúi đầu kính lễ Phật, đã thuyết

Nhân duyên cao nhất trong các thuyết

QUÁN DUYÊN
[1:1.] Không từ chính mình; không từ thứ khác;
Không từ cả hai; không từ không nhân:
Sự vật nào có thứ gì ở đâu
Sinh ra bao giờ!
[1:2.] — «Duyên sinh có bốn đó là nhân duyên;
Cùng sở duyên duyên ; với thứ đệ duyên;
Và cũng tương tự có tăng thượng duyên.
Chỉ thế không hề có duyên thứ năm.»
[1:3.] Tự tánh sự vật không hề nằm ở
Nơi duyên hay là ở nơi nào khác.
Nếu như ngã tánh đã không là có,
Vậy thì tha tánh cũng không là có.
[1:4.] Không có việc nào ứng cùng với duyên;
Không ứng cùng duyên thì không có việc;
Duyên không ứng việc chẳng phải là duyên;
Duyên ứng với việc cũng là như thế.
[1:5.] Nhờ vào điều này nên mới khởi sinh
Do đó mà gọi điều này là duyên.
Nhưng trước khi sinh, tại sao khi ấy
Điều này lại chẳng là không phải duyên?
[1:6.] Cho dù là có hay là không có,
Sự vật không hề tương ứng với duyên.
Đã không, thì duyên là duyên của ai?
Đã có, thì duyên là để làm gì?
[1:7.] Khi mà các pháp dù có; không có;
Vừa có, vừa không; đều không thiết lập,
Vậy thứ thiết lập sao gọi là nhân?
Nếu gọi như thế là không đúng lý.
[1:8.] Pháp-có này đây đối cảnh của nó
Thật sự không có lại bảo rằng có.
Nếu như các pháp đã không đối cảnh,
Vậy có sở duyên là có ở đâu?
[1:9.] Các pháp khi mà chưa có sinh ra
Thì đâu lý nào lại là có diệt.
Nếu vẫn diệt thì lấy gì làm duyên?
Nên thứ đệ [duyên] là điều phi lý.
1:10. Bởi vì không hề có sự vật nào
Không có tự tánh mà có hiện hữu,
Cho nên nói rằng, vì cái này có
Nên cái kia sinh, là không đúng lý.
[1:11.] Dù duyên riêng lẻ hay duyên tập hợp,
Quả vẫn không hề có ở nơi duyên.
Điều gì vốn đã không có nơi duyên,
Làm sao có thể từ duyên sinh khởi?
[1:12.] Nếu bảo — “Quả này không có nơi duyên
Cũng vẫn có thể từ duyên sinh khởi,”
Thế thì tại sao lại không thể nào
Từ nơi không phải là duyên sinh ra?
[1:13.] Nếu “quả có cùng tự tánh với duyên,”
Nhưng duyên thì lại không có tự tánh.
Thứ không tự tánh thì quả của nó
Đâu thể nào cùng tự tánh với duyên.
[1:14.] Nên quả không cùng tự tánh với duyên,
Không cùng tự tánh với không-phải duyên.
Quả đã không có thì dù là duyên,
Hay không phải duyên cũng đâu thể có?

Bài viết Trung quán luận – Phần 1 Quán Nhân Duyên đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/trung-quan-luan-phan-1-quan-nhan-duyen-609/feed/ 0
Myanmar – Mảnh đất của sự Bình yên tới lạ kỳ https://nghianb.org/myanmar-manh-dat-cua-su-binh-yen-toi-la-ky-32/ https://nghianb.org/myanmar-manh-dat-cua-su-binh-yen-toi-la-ky-32/#respond Tue, 22 Sep 2026 05:54:02 +0000 https://nghianb.org/?p=32 Tôi tới Myanmar 2 lần, một lần vào tháng 3 năm 2018 và 1 lần vào tháng 8 năm 2019. Hai lần đi có trùng lặp một số địa điểm nhưng theo một cơ duyên nào đó, tôi không cảm thấy nó lặp lại và không có chút ký ức gì về sự nhàm chán.Xem thêm

Bài viết Myanmar – Mảnh đất của sự Bình yên tới lạ kỳ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Tôi tới Myanmar 2 lần, một lần vào tháng 3 năm 2018 và 1 lần vào tháng 8 năm 2019. Hai lần đi có trùng lặp một số địa điểm nhưng theo một cơ duyên nào đó, tôi không cảm thấy nó lặp lại và không có chút ký ức gì về sự nhàm chán. Với tôi, đây vẫn là mảnh đất kỳ diệu cần khám phá thêm nhiều lần nữa khi có cơ hội. Một mảnh đất hội tụ đủ thứ tốt đẹp lý tưởng mà tôi vẫn nghĩ tới: tâm linh, con người chất phác, thiên nhiên tươi đẹp, sự tự tại vô bờ bến cho các du khách như tôi.

Trang-phuc-truyen-thong-cua-nam-gioi-myanmar

Tôi là một người có xu hướng tâm linh và hướng nội nên có lẽ bài viết cũng thiên nhiều về tâm linh và hướng nội, không phù hợp với những người bạn thích chia sẻ lối sống khoáng đạt, hào sảng….
Tôi và người bạn đồng hành có 2 tuần trước khi chuẩn bị, lên kế hoạch và đặt vé… cho chuyến đi kéo dài khoảng 5 ngày. Chúng tôi quyết định lựa chọn thời điểm hết mùa du lịch để book vé lên đường vì ở thời điểm đó, vé máy bay, chi phí đi lại và ăn ở đều rẻ tới gần 1 nửa so với thời điểm đông khách mùa du lịch, một phần vì tôi cũng thích những gì nguyên sơ, vắng vẻ và yên tĩnh.
Sau đây là lịch trình di chuyển cơ bản của chúng tôi trong 5 ngày du lịch Myanmar. Chi tiết có lẽ sẽ chia sẻ trong 1 bài viết khác.

Bài viết Myanmar – Mảnh đất của sự Bình yên tới lạ kỳ đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/myanmar-manh-dat-cua-su-binh-yen-toi-la-ky-32/feed/ 0
Cầu nguyện và cái lạy mê tín https://nghianb.org/cau-nguyen-va-cai-lay-me-tin-291/ https://nghianb.org/cau-nguyen-va-cai-lay-me-tin-291/#respond Tue, 22 Sep 2026 03:29:02 +0000 https://nghianb.org/?p=291 Không có gì sai trái nếu chúng ta cầu nguyện và sẽ càng thật tốt đẹp nếu sự cầu nguyện của chúng ta hướng tới cộng đồng, cầu mong những điều tốt lành cho người khác, cho đại chúng và toàn thể tự nhiên. Điều này không giống như một số người suy nghĩ cầuXem thêm

Bài viết Cầu nguyện và cái lạy mê tín đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
Cầu nguyện và cái lạy mê tín

Không có gì sai trái nếu chúng ta cầu nguyện và sẽ càng thật tốt đẹp nếu sự cầu nguyện của chúng ta hướng tới cộng đồng, cầu mong những điều tốt lành cho người khác, cho đại chúng và toàn thể tự nhiên. Điều này không giống như một số người suy nghĩ cầu nguyện là mê tín, không phải, chỉ 1 bộ phận cầu nguyện có “cái lạy mê tín” nếu họ đang cầu nguyện sai cách thôi.

Tuy nhiên, cầu nguyện như thế nào là đúng, cầu nguyện như thế nào là mê tín? Tại sao có người cầu nguyện thì hiệu quả, có lúc cầu nguyện thì hiệu quả và ngược lại có người cầu chẳng bao giờ được, có người thì

Bài viết Cầu nguyện và cái lạy mê tín đã xuất hiện đầu tiên vào ngày Nghĩa NB.

]]>
https://nghianb.org/cau-nguyen-va-cai-lay-me-tin-291/feed/ 0