• Skip to content
  • Skip to primary sidebar
  • Skip to footer

Nghĩa NB

Blog cá nhân của Nghĩa NB

  • Trang chủ
  • Y học & Khoa học
  • Tâm linh & Phật giáo
  • Kinh doanh
  • Nhật ký vu vơ
  • Sách hay
  • Nghệ thuật – Văn hóa – Lịch sử
  • Giáo dục
  • Tâm lý học
  • Chủ nghĩa khắc kỷ
  • Kinh doanh
Trang chủ » Y học & Khoa học » Thuốc Aciclovir có dùng được cho phụ nữ có thai và cho con bú không

Thuốc Aciclovir có dùng được cho phụ nữ có thai và cho con bú không

Acyclovir là thuốc kháng virus phổ biến nhất đối với các trường hợp nhiễm Herpes. Nhiều phụ nữ có thai, cho con bú có thể bị nhiễm Herpes thì có nên dùng Acyclovir không?

Phân loại mức độ an toàn cho phụ nữ có thai của Acyclovir: B3

Phân loại mức độ an toàn B3 : thuốc được sử dụng trên một số lượng giới hạn phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mà không quan sát thấy sự gia tăng dị tật thai nhi hoặc các tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp khác đến thai nhi. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy có bằng chứng thuốc làm tăng tổn thương thai nhi, nhưng chưa chắc chắn về mức độ ý nghĩa của bằng chứng này với người.

Nhóm thuốc: thuốc kháng virus.

Tên hoạt chất: acyclovir.

Biệt dược: Acirax, Acyvir, Azalovir, Dovirex, Kemivir, Lacovir, Osafovir.

Chỉ định thuốc Acyclovir

Điều trị nhiễm virus Herpes simplex (typ 1 và typ 2) lần đầu và tái phát ở niêm mạc – da (viêm miệng, lợi, bộ phận sinh dục), viêm não – màng não, ở mắt (viêm giác mạc).

Zona, dự phòng biến chứng mắt do Zona mắt.

Một số chỉ định khác như: nhiễm virus Varicella Zoster, thủy đậu.

Chống chỉ định thuốc Acyclovir

Mẫn cảm với thuốc hoặc một số thành phần củathuốc.

Liều và cách dùng

Điều trị càng sớm càng tốt khi có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.

Đường uống: liều uống thay đổi tùy chỉ định.

Nhiễm Herpes simplex tiên phát: 200 mg/lần, 5 lần/ngày, 5 – 10 ngày, có thể tăng đến 400 mg/lần nếu có suy giảm miễn dịch.

Liều dự phòng tái phát nhiễm Herpes simplex tùy tần số tái phát.

Thủy đậu, Zona: 800 mg/lần, 5 lần/ngày, 5 – 7 ngày hoặc tới 10 ngày.

Đường qua da (dạng thuốc mỡ):

Bôi lên vị trí tổn thương cách 4 giờ một lần, 5 – 6 lần/ngày, từ 5 – 7 ngày, bắt đầu ngay từ khi xuất hiện triệu chứng

Chuyển hóa:

Aciclovir hấp thu kém qua đường uống, sinh khả dụng 10 – 20 %, phân bố rộng trong dịch cơ thể và cơ quan. Thuốc chậm thải trừ hơn ở bệnh nhân giảm chức năng thận. Khi bôi lên da, thuốc hấp thu rất ít.

Thuốc dùng đường uống qua được hàng rào nhau thai.

Thuốc phân bố được vào sữa mẹ với nồng độ gấp 3 lần trong huyết thanh mẹ.

Độc tính của Acyclovir

Trên phụ nữ có thai:

Một số bằng chứng hiện tại trên người không cho thấy tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh ở trẻ có mẹ dùng acyclovir trong thời kỳ mang thai. Sử dụng acyclovir tại chỗ điều trị herpes cũng không cho thấy tác hại nào.

Ngay cả với liều aciclovir cao nhất ở mẹ, nồng độ aciclovir trong sữa chỉ khoảng 1% và ít có khả năng gây ra tác dụng phụ ở trẻ bú mẹ tuy nhiên vẫn nên thận trọng khi sử dụng. Trên phụ nữ cho con bú:

Chưa quan sát thấy các triệu chứng độc tính trên trẻ bú mẹ, và ngay cả kể sử dụng acyclovir trên trẻ sơ sinh cũng cho thấy dung nạp tốt. Sử dụng acyclovir tại chỗ trên diện tích da nhỏ, xa vùng cho con bú ít gây nguy hiểm với trẻ bú mẹ.

Sử dụng cho phụ nữ có thai

Nếu chỉ định thuốc kháng virus đường toàn thân điều trị tình trạng nặng ở mẹ mang thai, hoặc để bảo vệ thai nhi tránh nhiễm trùng trong tử cung với lợi ích vượt trội so với nguy cơ, thuốc được ưu tiên và đánh giá tốt hơn cả đó là acyclovir hoặc valacyclovir. Acyclovir cũng là thuốc ưu tiên sử dụng điều trị tại chỗ Herpes.

Sử dụng cho phụ nữ cho con bú

Mặc dù aciclovir được ưu tiên hơn cả nếu có chỉ định điều trị kháng virus trong thời kỳ này nhưng vẫn nên thận trọng. Nếu có thể, nên dùng đường tại chỗ.

Có thể cho con bú khi sử dụng acyclovir tại chỗ hoặc đường toàn thân điều trị herpes. Với dạng tại chỗ, chỉ nên dùng các kem hoặc gel thân nước, tránh thuốc mỡ để hạn chế lượng parafin trong thuốc mỡ trẻ nuốt phải khi bú mẹ của trẻ.

Một số tác dụng phụ: Nói chung hiếm gặp khi dùng đường uống. Hiếm gặp buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, rối loạn tiêu hóa. Các triệu chứng thường hiếm và nhẹ, tự hết nhưng nếu có các triệu chứng nặng nên ngưng thuốc ngay.

Bài viết liên quan:

  • Yêu nhau bao lâu là đủ
  • Ảo ảnh bướng bỉnh: Thời gian, sự sống và lá thư cuối của Einstein
  • Thuốc Acyclovir có an toàn cho phụ nữ có thai và cho con bú không ?
  • Bồ tát có bệnh không?

Reader Interactions

Ý kiến của bạn Hủy

Primary Sidebar

Tìm kiếm

Bài viết nổi bật

Con số 60: con số mà năm nghìn năm văn minh không nỡ từ bỏ

Ảo ảnh bướng bỉnh: Thời gian, sự sống và lá thư cuối của Einstein

Câu đố bên sông Sài Gòn: Vì sao Việt Nam chưa có một Samsung, và bài học chính sách rút ra

Kháng kháng sinh – mối đe dọa thầm lặng của y học hiện đại

Giấc ngủ và hệ miễn dịch – điều khoa học đã chứng minh

Chuyên mục

  • Y học & Khoa học
  • Kinh doanh
  • Tâm linh & Phật giáo
  • Sách hay

Thẻ

Bài học cuộc sống Chủ nghĩa khắc kỷ Chứng khó đọc Covid-19 Cuộc sống DS Nghĩa Dạy con Dạy trẻ Einstein Evergrande Giáo dục Hạnh phúc húy kỵ Innocare Khoa học khoa học thần kinh Kinh doanh Ký ức Life lessons Linh hồn Long Thọ Lá đu đủ lịch sử Việt Nam nghianb Nghệ thuật tư duy Nho giáo Nhật ký Nhật ký vu vơ Phật giáo PlasmaKare Stoicism Sách hay Sốt xuất huyết Sự lựa chọn Thiền Thuốc cho PNCT và CCB Thời gian Trung đạo Tài chính Tâm linh tên người Việt Tư vấn thuốc văn hóa Việt Nam Vật lý lượng tử Y học

Footer

Chuyên mục

  • Y học & Khoa học
  • Kinh doanh
  • Tâm linh & Phật giáo
  • Sách hay

Bài viết mới

Con số 60: con số mà năm nghìn năm văn minh không nỡ từ bỏ

Ảo ảnh bướng bỉnh: Thời gian, sự sống và lá thư cuối của Einstein

Câu đố bên sông Sài Gòn: Vì sao Việt Nam chưa có một Samsung, và bài học chính sách rút ra

Kháng kháng sinh – mối đe dọa thầm lặng của y học hiện đại

Giấc ngủ và hệ miễn dịch – điều khoa học đã chứng minh

Contact me

Nghĩa NB